Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG CUỘC TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021 LÀ GÓP PHẦN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA PHƯƠNG VÀ CẢ NƯỚC

Thống kê cần cập nhật và theo sát diễn biến kinh tế – VTV1


Các đại biểu thảo luận tại Tổ về một số điều của Luật Thống kê


Sửa Luật Thống kê và những kỳ vọng mới

 

 

 

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2017
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10-2017
Thứ sáu, Ngày 27 Tháng 10 Năm 2017

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang

Tháng 10 năm 2017

    I. Tình hình kinh tế

    1. Sản xuất nông nghiệp – thủy sản

    a. Nông nghiệp

    Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 757 ha, thu hoạch 98 ha với sản lượng 3.508 tấn. Ước tính đến cuối tháng 10/2017, toàn tỉnh gieo trồng được 214.960 ha, đạt 103,5% kế hoạch, giảm 2% so cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 1.105.531 tấn, đạt 90,3% kế hoạch, giảm 1,1% so cùng kỳ (diện tích lúa thu đông chưa thu hoạch); trong đó: cây lúa gieo sạ 210.854 ha, đạt 103,8% kế hoạch, thu hoạch 180.162 ha, năng suất bình quân 60,7 tạ/ha với sản lượng 1.092.901 tấn, đạt 90,5% kế hoạch.

    * Vụ Thu Đông: sơ bộ xuống giống khoảng 30.692 ha, tập trung ở các huyện phía đông. Đây là vùng trọng điểm trồng lúa đặc sản và lúa chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu của địa phương với các loại giống: Nàng hoa 9, OM 4900, OM 616, các giống OM khác, nếp bè…

    Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng được 274 ha, thu hoạch 1.121 ha với sản lượng 21.561 tấn; mười tháng gieo trồng 53.474 ha, đạt 99,1% kế hoạch, tăng 2,3% so cùng kỳ, thu hoạch 45.272 ha với sản lượng 810.947 tấn, đạt 82,9% kế hoạch, tăng 2,8% so cùng kỳ.

    Thời điểm 15/10, tổng đàn bò có 127 ngàn con, tăng 0,1% so cùng kỳ. Tổng đàn lợn 634 ngàn con, giảm 14,7% so cùng kỳ; giá lợn hơi dao động ở mức 2,6 - 2,9 triệu đồng/tạ, hiện tại chưa có dấu hiệu hồi phục giá, do đó, người chăn nuôi cần phải cảnh giác với hiện tượng giá tăng cao bất thường, tại một số nơi thiếu nguồn cung cục bộ thì giá sẽ bị đẩy lên, nếu chỉ nhìn vào đó mà ồ ạt tăng đàn rất dễ rơi vào tình trạng như vừa qua. Tổng đàn gia cầm 13,7 triệu con, tăng 2,4% so cùng kỳ; trong đó đàn gà 10,6 triệu con; nhiều địa phương kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh, đã triển khai mô hình nuôi gà theo hướng an toàn sinh học vừa bảo vệ môi trường, vừa tiết kiệm chi phí cho nên chăn nuôi gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định, một số hộ chuyển từ nuôi gà nhập sang nuôi gà ri mang lại hiệu quả hơn so trước đây.

    b. Thủy hải sản:

    Diện tích nuôi trồng thủy sản các loại trong tháng 2.263 ha, mười tháng nuôi 15.820 ha, đạt 99,1% kế hoạch, giảm 0,4% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi được 6.104 ha, so cùng kỳ giảm 3%; trong đó: cá tra công nghiệp 2.069 ha. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi được 9.716 ha, tăng 6,9% so cùng kỳ; trong đó: tôm sú 4.515 ha, tôm thẻ 2.580 ha…

    Tình hình dịch bệnh: trong tháng có 3,2 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh của huyện Tân Phú Đông bị bệnh; lũy kế đến nay có 114,62 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh của 2 huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông bị bệnh, nguyên nhân do thời tiết thay đổi, thiếu cân bằng các yếu tố trong môi trường ao nuôi, trong đó Ngành chuyên môn đã xác minh 71,7 ha, sử dụng 12.880 kg TCCA và 200 kg Chlorine để xử lý môi trường nuôi.

   Sản lượng thủy sản tháng 10 ước được 17.454 tấn, ước tính 10 tháng đạt 217.848 tấn, đạt 89,6% kế hoạch, tăng 3,4% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi đạt 132.165 tấn, đạt 90,7% kế hoạch, tăng 4,1% so cùng kỳ, sản lượng khai thác đạt 85.683 tấn, đạt 87,9% kế hoạch, tăng 2,3% so cùng kỳ do thời tiết khá thuận lợi, kết hợp với việc thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ cho ngư dân và các chính sách phát triển thủy sản cũng được đẩy mạnh triển khai.

    2. Sản xuất công nghiệp

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10 giảm 1,7% so với tháng trước và tăng 10,4% so tháng cùng kỳ năm trước. Mười tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,3% so cùng kỳ; bao gồm: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,8%, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,5%, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,6%.

    Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 giảm 7,5% so với tháng 9. Tính chung 10 tháng chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 32,7% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: chế biến bảo quản thủy sản tăng 39,6%, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 7,4%, sản xuất bia tăng 37%, sản xuất sợi tăng 69,2%, may trang phục bằng gấp 3,4 lần, sản xuất va ly túi xách tăng 92,1%, sản xuất giày dép tăng 39,2%, sản xuất sản phẩm khác từ gỗ tăng 18,5%, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 21,3%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 45,2%, sản xuất kim loại tăng 50,7%, sản xuất dây cáp, dây điện tăng 35,8%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so với 10 tháng năm 2016 là: Sản xuất sản phẩm khác bằng kim loại giảm 4,12%, sản xuất mô tơ giảm 6,35%, sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 35,56%.

    Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 10 so với tháng trước tăng 18,6%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với tháng trước là: chế biến bảo quản thủy sản tăng 8,3%, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 40,5%, sản xuất bia tăng 45,2%, sản xuất sợi tăng 21,5%, may trang phục tăng 5,2%, sản xuất va ly túi xách tăng 7,9%, sản xuất giày dép tăng 21,7%, sản xuất sản phẩm khác từ gỗ tăng 57,5%, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy bằng 5,4 lần... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so với tháng trước là: sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 18,8%, sản xuất mô tơ giảm 10,3%, sản xuất dây cáp, dây điện giảm 83,3%....

    3. Đầu tư – Xây dựng

    Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, trong tháng thực hiện được 280,8 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay thực hiện 1.860,3 tỷ đồng, đạt 74,3% kế hoạch, tăng 13,8% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 1.455,2 tỷ đồng, tăng 18% so cùng kỳ, chiếm 78,2% trong tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 259,5 tỷ đồng, tăng 8,9%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 622,9 tỷ đồng, tăng 19%... Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 272,2 tỷ đồng, giảm 3,6% so cùng kỳ, chiếm 14,6% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 95,7 tỷ đồng, giảm 24,2%... các huyện đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình đang xây dựng nhằm hạn chế tình trạng ứ động vốn phải chuyển sang năm sau. Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 132,9 tỷ đồng, tăng 10,8% so cùng kỳ, chiếm 7,2% trong tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 98,4 tỷ đồng, tăng 9,8%... theo kế hoạch vốn giao từ đầu năm các địa phương chủ động vận động nhân dân đóng góp nguồn vốn để thực hiện các tuyến đường giao thông nông thôn để sớm đưa vào sử dụng.

    4. Thương mại – Giá cả - Dịch vụ

    a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội:

    Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện được 4.761,4 tỷ đồng, tăng 8,5% so cùng kỳ; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa 3.804,7 tỷ đồng, tăng 7,9%. Mười tháng đầu năm tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện 46.482 tỷ đồng, đạt 82,3% kế hoạch, tăng 6,1% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 3.876,3 tỷ đồng, tăng 3% so cùng kỳ, kinh tế ngoài nhà nước 42.358,4 tỷ đồng, tăng 6,5%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 247,4 tỷ đồng, giảm 0,1%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 37.594,8 tỷ đồng, tăng 5,6%; lưu trú 72,8 tỷ đồng, tăng 7,6%; ăn uống 4.360,9 tỷ đồng, tăng 14,8%; du lịch lữ hành 62 tỷ đồng, tăng 16%; dịch vụ 4.391,5 tỷ đồng, tăng 3% so cùng kỳ.

    b. Xuất - Nhập khẩu:

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10 thực hiện được 221,3 triệu USD, tăng 2,8% so tháng trước. Mười tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 2.057,7 triệu USD, đạt 87,6% kế hoạch, tăng 24,5% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước thực hiện 55,1 triệu USD, gấp 5,9 lần so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 578,9 triệu USD, tăng 21%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 1.423,7 triệu USD, tăng 22,2% so cùng kỳ.

    Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh cụ thể như sau:

    - Thủy sản: ước tính tháng 10 xuất 14.088 tấn, tăng 2,9% so tháng trước; mười tháng xuất 116.328 tấn, tăng 10,2% so cùng kỳ, về trị giá đạt 340 triệu USD, tăng 55% so cùng kỳ. Thị trường chủ yếu xuất khẩu thủy sản là Trung Quốc và một số thị trường khác tiêu thụ mạnh nên giá cá tra nguyên liệu dao động từ 27 - 27,5 ngàn đồng/kg làm cho người nuôi lãi trên 5 ngàn đồng/kg.

    - Gạo: ước tính tháng 10 xuất 22.441 tấn, giảm 18,5% so tháng trước; mười tháng xuất 234.639 tấn, tăng 112,6%, về trị giá đạt 108 triệu USD, tăng 111% so cùng kỳ. Xuất khẩu gạo tăng nhờ ký được hợp đồng tập trung và hợp đồng thương mại với một số thị trường trọng điểm như Malaysia 150 ngàn tấn, Philippines 175 ngàn tấn, Bangladesh 250 ngàn tấn. Giá gạo xuất khẩu bình quân 10 tháng 460,2 USD/tấn, giảm 0,6% so cùng kỳ nhưng đang có tín hiệu tăng trở lại khi bình quân tháng 10 tăng 9,1% so với tháng 9 chỉ đạt 463,4 USD/tấn. Thị trường Trung Quốc là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của tỉnh, lượng gạo xuất khẩu 10 tháng đạt 180,7 ngàn tấn, chiếm 77% tổng lượng gạo xuất nhưng giá xuất khẩu chỉ đạt 455,7 USD/tấn, thấp hơn giá xuất bình quân của các thị trường khác.

    - May mặc: ước tính tháng 10 xuất 11.029 ngàn sản phẩm, tăng 3,7% so tháng trước; mười tháng xuất 71.917 ngàn sản phẩm, tăng 1,8% so cùng kỳ, về giá trị đạt 395,8 triệu USD, tăng 0,9% so cùng kỳ. Một trong những khó khăn của ngành dệt may trên địa bàn tỉnh là định hướng phát triển chưa đáp ứng được sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu của thị trường do thiếu sự cạnh tranh và thu hút đối với người lao động, chi phí đầu vào cũng như phí vận chuyển cao, việc tiếp cận nguồn vốn còn gặp nhiều khó khăn.

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 82,6 triệu USD, tăng 3,9% so tháng trước. Mười tháng, kim ngach nhập khẩu đạt 927,2 triệu USD, đạt 71,3% kế hoạch, giảm 2% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước đạt 126,8 triệu USD, giảm 37,8%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 800,4 triệu USD, tăng 7,8% so cùng kỳ. Nhập khẩu mười tháng phân theo ngành sản xuất kinh doanh chính gồm 2 ngành: công nghiệp chế biến chế tạo và thương nghiệp bán buôn bán lẻ, trong đó tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo đạt 920,7 triệu USD, chiếm 99,3% tổng kim ngạch, giảm 2,1% so cùng kỳ; trong đó: trị giá hàng nhập khẩu cho ngành sản xuất chế biến thực phẩm đạt 93,7 triệu USD, giảm 41,8%; ngành may mặc 204,4 triệu USD, giảm 28%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan 272,4 triệu USD, tăng 14,6%. Nhập khẩu hàng hóa đạt 6,6 triệu USD, tăng 8,9% so cùng kỳ.

    c. Giá cả:

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,58% so tháng 8 (thành thị tăng 0,63%, nông thôn tăng 0,57%), so cùng kỳ tăng 3,95%, so tháng 12 năm 2016 tăng 2,68%, bình quân 9 tháng đầu năm 2017 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,95%. So với tháng 8/2017, trong tháng 9 có tới 10/11 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, tăng cao nhất là nhóm giáo dục tăng 5,84%, kế đến là nhóm giao thông tăng 1,84%, nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,49%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,31%... chỉ có nhóm hàng bưu chính viễn thông có chỉ số giá ổn định.

    Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng chủ yếu do:

    - Năm học 2017-2018 theo lộ trình thực hiện Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính Phủ và Nghị Quyết số 09/2016/NQ-HĐND ngày 5/8/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh giá học phí sẽ tăng lên, làm cho nhóm hàng giáo dục tăng 5,84% so với tháng trước, đóng góp vào mức tăng chung chỉ số giá tiêu dùng khoảng 0,31%. Riêng giá học phí giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông công lập dự kiến sẽ thay đổi vào tháng 12/2017 sau khi thông qua kỳ họp Hội đồng nhân dân.

    - Giá xăng dầu được điều chỉnh tăng vào ngày 05/9/2017 và ngày 20/9/2017, giá xăng tăng: 630 đồng/lít, dầu diezen 0,05S tăng: 650 đồng/lít, góp phần làm tăng chỉ số giá tiêu dùng chung khoảng 0,15%.

    - Giá gas tăng 16.000 đồng/bình 12 kg vào ngày 01/9/2017, tác động chỉ số giá gas tăng 5,72%. Do giá phôi thép nhập khẩu tăng, tác động giá thép xây dựng tại địa phương tháng này tăng bình quân từ 10% - 15% so tháng trước.

    - Do ảnh hưởng của mưa, bão nên giá rau, củ... tươi tăng 2,82%.

    Bên cạnh đó, cũng có một số nguyên nhân làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 giảm như:

    - Giá thịt lợn giảm so tháng trước, giá lợn hơi tại địa phương hiện nay phổ biến dao động từ 25.000 đến 30.000 đồng/kg tùy theo loại giống, giảm 2.000 - 3.000 đồng/kg so tháng trước.

    - Giá khoai lang tươi, sắn tươi giảm do vào vụ thu hoạch, dẫn đến nhóm nguồn cung dồi dào, giá giảm. 

    - Giá cát xây dựng tại địa phương tháng này giảm bình quân từ 8% - 10% so tháng trước, do các tháng trước nguồn cung hạn chế giá đứng ở mức cao; mặc khác trong tháng mưa nhiều nhu cầu xây dựng giảm, giá giảm theo.

    Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 9 tăng 3,19% so tháng trước, giá bình quân 3,59 triệu đồng/chỉ. Chỉ số đô la Mỹ trong tháng 9 giảm 0,01% so tháng trước, giá bình quân 22.762 đồng/USD.

    Ước chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017 tăng từ 0,1 - 0,2% so tháng 9/2017.

    d. Du lịch:

    Khách du lịch đến trong tháng được 131,2 ngàn lượt khách, tăng 0,9% so tháng trước và cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 42,4 ngàn lượt khách, tăng 1,6% so tháng trước và tăng 3,6% so cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trong tháng đạt 453,5 tỷ đồng, tăng 1,9% so tháng trước và tăng 11,3% so cùng kỳ.

    Tính chung mười tháng, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 1.387,7 ngàn lượt khách, đạt 76% kế hoạch, tăng 5,1% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 467,6 ngàn lượt khách, đạt 71,4% kế hoạch, tăng 7,4%. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ lữ hành đạt 4.495,7 tỷ đồng, tăng 14,7% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu về dịch vụ ăn uống chiếm 97%.

    e. Vận tải:

    Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 173,6 tỷ đồng, tăng 0,9% so tháng trước. Mười tháng thực hiện 1.689,6 tỷ đồng, tăng 4,4% so cùng kỳ; trong đó cơ sở kinh tế cá thể thực hiện 887 tỷ đồng, tăng 1%. Vận tải đường bộ thực hiện 956,6 tỷ đồng, tăng 3,2% so cùng kỳ; vận tải đường sông thực hiện 638,4 tỷ đồng, tăng 3,1%; vận tải đường biển thực hiện 94,6 tỷ đồng, tăng 32,7% so cùng kỳ.

    Vận chuyển hành khách trong tháng đạt 2.382 ngàn lượt khách, giảm 3,4% so tháng trước và luân chuyển được 86.986 ngàn lượt khách.km, giảm 2,2% so tháng trước, do tháng trước trùng dịp nghỉ lễ Quốc khánh 2/9 nên nhu cầu đi lại người dân tăng, qua lễ nhu cầu đi lại của hành khách ổn định trở lại như những ngày bình thường; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể đạt 1.794 ngàn lượt khách, giảm 3,9% và luân chuyển được 67.219 ngàn lượt khách.km, giảm 1,7%. Mười tháng vận chuyển hành khách đạt 24.832 ngàn lượt khách, tương đương cùng kỳ và luân chuyển được 894.519 ngàn lượt khách.km, giảm 2,2% so cùng kỳ; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể đạt 18.750 ngàn lượt khách, tăng 4,1% và luân chuyển được 694.821 ngàn lượt khách.km, giảm 2,3% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 16.633 ngàn lượt khách, giảm 5,6% và luân chuyển được 880.692 ngàn lượt khách.km, giảm 2,3% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 8.199 ngàn lượt khách, tăng 13,5% và luân chuyển được 13.827 ngàn lượt khách.km, tăng 8,7% so cùng kỳ.

    Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.277 ngàn tấn, tăng 1% so tháng trước và luân chuyển được 124.205 ngàn tấn.km, tăng 1% so tháng trước; trong đó cơ sở kinh tế cá thể đạt 547 ngàn tấn, tăng 1,1% và luân chuyển được 40.268 ngàn tấn.km, tăng 1,1% so tháng trước. Mười tháng vận tải hàng hóa đạt 12.532 ngàn tấn, tăng 6,2% và luân chuyển được 1.188.627 ngàn tấn.km, tăng 3% so cùng kỳ; trong đó vận tải của cơ sở kinh tế cá thể đạt 5.482 ngàn tấn, tăng 15,5% và luân chuyển được 375.297 ngàn tấn.km, tăng 3,6% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 3.822 ngàn tấn, tăng 23,5% và luân chuyển được 279.312 ngàn tấn.km, tăng 10,5% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 8.710 ngàn tấn, tương đương cùng kỳ và luân chuyển được 909.315 ngàn tấn.km, tăng 0,9% so cùng kỳ.

    f. Bưu chính viễn thông:

    Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông trong tháng đạt 144 tỷ đồng, giảm 6,8% so tháng trước. Mười tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.658,9 tỷ đồng, tăng 6,4% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 84,3 tỷ đồng, tăng 54,3%, viễn thông 1.574,6 tỷ đồng, tăng 4,6% so cùng kỳ.

    Thuê bao điện thoại trong tháng giảm 3.400 thuê bao; trong đó: thuê bao cố định giảm 5.750 thuê bao. Tổng số thuê bao có trên mạng đến cuối tháng 10 là 122.812 thuê bao, mật độ bình quân đạt 7,1 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao Internet trong tháng phát triển mới 9.068 thuê bao, thuê bao Internet có trên mạng cuối tháng 10 là 145.942 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 8,4 thuê bao/100 dân.

    5. Tài chính, ngân hàng:

    a. Tài chính:

    Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 876,5 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 585 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 184 tỷ đồng. Mười tháng thu 10.442,8 tỷ đồng, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 6.100,5 tỷ đồng, đạt 86,6% dự toán và tăng 8,4% so cùng kỳ, thu nội địa 5.848,8 tỷ đồng, đạt 87,4% dự toán, tăng 8,8% so cùng kỳ (trong thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.803,8 tỷ đồng, đạt 92% dự toán, tăng 10,1% so cùng kỳ; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 827,4 tỷ đồng, đạt 74,7% dự toán, tăng 6,1% so cùng kỳ).

    Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 917 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 350 tỷ đồng. Mười tháng chi 7.510,8 tỷ đồng, đạt 86,7% dự toán, tăng 5,5% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.112,5 tỷ đồng, đạt 80,6% dự toán, tăng 1,3% so cùng kỳ; chi hành chánh sự nghiệp 4.505,6 tỷ đồng, đạt 82,5% dự toán và tăng 13,8% so cùng kỳ.

    b. Ngân hàng:

    Tổng thu tiền mặt trong tháng thực hiện được 17.000 tỷ đồng, 10 tháng thực hiện được 199.407 tỷ đồng, tăng 17,1% so cùng kỳ. Tổng chi tiền mặt trong tháng được 17.500 tỷ đồng, 10 tháng thực hiện được 199.622 tỷ đồng, tăng 17,2% so cùng kỳ.

    Tính đến ngày 10/10/2017, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 54.864 tỷ đồng, tăng 244 tỷ đồng so cuối tháng 9/2017, ước đến cuối tháng 10 tổng nguồn vốn huy động đạt 55.162 tỷ đồng, tăng 546 tỷ đồng so cuối tháng 9/2017. Đến ngày 10/10/2017, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 40.053 tỷ đồng, tăng 128 tỷ đồng so cuối tháng 9/2017, dự kiến đến cuối tháng 10/2017, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 40.483 tỷ đồng, tăng 558 tỷ đồng so với tháng 9/2017; trong đó, dư nợ trung và dài hạn chiếm 43,1%. Thực hiện cho vay phát triển thủy sản theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ: tính đến nay Ủy ban tỉnh đã phê duyệt 39 tàu đóng mới với tổng số tiền cam kết theo hợp đồng tín dụng là 238 tỷ đồng, 51 tàu nâng cấp đã thực hiện giải ngân cho 5 tàu với hạn mức tín dụng 10 tỷ đồng và 274 tàu vay vốn lưu động với doanh số cho vay 19,5 tỷ đồng.

    II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động việc làm:

    Trong tháng tư vấn cho 1.908 lao động, đã giới thiệu việc làm cho 380 lượt lao động, có 2.106 lao động có được việc làm ổn định, có 7 lao động xuất cảnh chính thức, có 1.192 người đăng ký thất nghiệp và đã giải quyết hồ sơ thất nghiệp cho 1.080 người với tổng số tiền chi trả tương đương 11.933 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay tư vấn cho 18.561 lao động, đã giới thiệu cho 3.735 lao động, có 2.106 lao động có việc làm ổn định, có 130 lao động xuất cảnh (Nhật Bản: 99 lao động, Hàn Quốc: 11 lao động, Đài Loan: 17 lao động và thị trường khác: 3 lao động), có 11.043 người đăng ký thất nghiệp và giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 10.721 người với số tiền chi trả 114.433 triệu đồng.

    2. Chính sách xã hội:

    Trong tháng vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 1 tỷ đồng, xây dựng 15 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 600 triệu đồng, sửa chữa 1 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 20 triệu đồng từ nguồn vận động. Mười tháng vận động quỹ đền ơn đáp nghĩa được 11,5 tỷ đồng, đạt 115% kế hoạch năm, xây dựng 102 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 4.142 triệu đồng, đạt 78% kế hoạch năm, sửa chữa 68 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.440 triệu đồng, đạt 194% kế hoạch năm từ nguồn vận động.

    Lập quyết định trợ cấp 1 lần theo Quyết định 24/2016/QĐ-TTg đối với người có thành tích tham gia kháng chiến được tặng Bằng khen, số lượng 400 người; lập quyết định điều dưỡng tại gia đình cho 11/11 huyện, thành, thị, số lượng 9.997 người, với số tiền trên 11 tỷ đồng; lập quyết định trợ cấp hàng tháng cho người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày với số lượng 05 người; lập quyết định trợ cấp hàng tháng cho người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học cho 10 trường hợp; lập quyết định trợ cấp thờ cúng liệt sĩ, số lượng 320 hồ sơ; lập quyết định trợ cấp tuất hàng tháng, số lượng 38 trường hợp; lập quyết định điều chỉnh giảm trợ cấp hàng tháng cho người có công cho 60 trường hợp…

    Quỹ Bảo trợ trẻ em vận động trên 125 triệu đồng, từ đầu năm đến nay đã vận động trên 2 tỷ đồng. Hỗ trợ cho khoảng 236 lượt trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thông qua các hoạt động trao học bổng, hỗ trợ phẫu thuật tim miễn phí … Tổ chức 18 đoàn thăm tặng quà trung thu cho 1.800 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại 18 xã trên địa bàn toàn tỉnh, mỗi phần quà gồm bánh trung thu, lồng đèn... trị giá 108 ngàn đồng, tổng kinh phí: 172,8 triệu đồng, nhằm tạo điều kiện cho các em được tham gia vui đón tết trung thu an toàn, lành mạnh.                                            

    3. Chăm sóc sức khỏe:

    Công tác phòng chống dịch bệnh được theo dõi, giám sát thường xuyên. So với cùng kỳ có 10 bệnh tăng như bệnh tay chân miệng tăng 113%, bệnh thủy đậu tăng 90,3%, bệnh thương hàn tăng 77,8% và bệnh do liên cầu lợn ở người tăng 60%...; có 7 bệnh giảm như bệnh sởi giảm 75%, bệnh cúm giảm 66,7%, bệnh uốn ván không phải sơ sinh giảm 60%, bệnh viêm não vi rút giảm 42,9%... và 11 bệnh tương đương không xảy ra cas mắc. Tình hình bệnh sốt xuất huyết đang có những diễn biến hết sức phức tạp, trong tháng xảy ra 398 cas tăng 70,1% so cùng kỳ; mười tháng, có 2.604 cas mắc sốt Dengue và sốt xuất huyết Dengue tăng 37,6% so cùng kỳ. Tính đến thời điểm báo cáo, tổng số cas nhiễm HIV là 4.704 người, tổng số cas AIDS là 1.704 người, tử vong do AIDS là 922 người.

    Từ đầu năm đến nay đã khám bệnh cho 4.747.219 lượt người, tăng 10% so cùng kỳ; trong đó: số lượt người điều trị nội trú là 201.459 lượt người, tăng 4,7%. Tình trạng quá tải cục bộ vẫn còn xảy ra tại các đơn vị khám chữa bệnh tuyến tỉnh và những đơn vị chuyên khoa. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị trong tháng đạt 123%, trong đó công suất sử dụng giường bệnh của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 147%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 102,1%, các bệnh viện tuyến huyện đạt 83,7%.... Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được ngành y tế quan tâm, trong tháng có 1.415 lượt cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra; kết quả có 1.366 cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, đạt 96,5%; trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

    4. Giáo dục - Đào tạo:

    Khảo thí và quản lý chất lượng giáo dục: Tổ chức thi lập đội tuyển học sinh giỏi dự thi cấp quốc gia trung học phổ thông năm 2017 vào các ngày 28, 29/9/2017 với các môn Toán, Vật lý, Hóa, Sinh... Kết quả đã chọn được 54 học sinh của các trường trung học phổ thông vào đội tuyển để dự thi.

    Trường Đại học Tiền Giang đã được công nhận đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở, với tỷ lệ các tiêu chí đạt yêu cầu là 83,61%. Kết quả kiểm định chất lượng được sử dụng làm căn cứ xác định chất lượng giáo dục đại học, vị thế và uy tín của cơ sở giáo dục… Với những tiêu chuẩn mà nhà trường đã được kiểm định và đánh giá một cách toàn diện, khách quan sẽ làm cơ sở nền tảng, tạo uy tín, niềm tin của nhà trường đối với người học và nhà tuyển dụng. Đồng thời, trên cơ sở đó, nhà trường sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những hạn chế, thiếu sót để không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của người học và người sử dụng lao động.

    5. Văn hóa - thể thao:

    Trong tháng đã tập trung tổ chức các hoạt động: tổ chức kỷ niệm 50 năm chiến thắng Ba Rài; tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đăng cai tổ chức Hội nghị giao ban các tỉnh phía Nam, phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa; tiếp tục triển khai, thẩm định tiêu chí số 6 về “cơ sở vật chất văn hóa”, và tiêu chí 16 “văn hóa” các xã điểm xây dựng nông thôn mới và kiểm tra các dịch vụ kinh doanh gây tiếng ồn trên địa bàn tỉnh. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh thực hiện 10 băng, in 250 đĩa CD tuyên truyền “ngày toàn dân hưởng ứng Phòng cháy chữa cháy”, 10 băng - rôn kỷ niệm ngày doanh nhân Việt Nam 13/10/2017, hỗ trợ tỉnh Đoàn treo 100 lá cờ Tổ quốc “Mừng Đại Hội Đoàn Thanh Niên tỉnh Tiền Giang nhiệm kỳ 2017 - 2022; đội tuyên truyền lưu động huyện, thành, thị tổ chức biểu diễn phục vụ 42 buổi với hơn 5.000 lượt người xem, thực hiện 45 pano, hơn 300 băng khẩu hiệu, hàng trăm cờ các loại cổ động, tuyên truyền các sự kiện chính trị tại địa phương. 

    6. Tình hình trật tự an toàn xã hội:

    Trong tháng tội phạm về trật tự an toàn xã hội xảy ra 74 vụ, làm chết 1 người, bị thương 7 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 1,5 tỷ đồng; chủ yếu là tội phạm cướp tài sản hoặc lợi dụng đường vắng, đối tượng dùng hung khí, đe dọa cướp tài sản; tình hình tội phạm trộm cắp tài sản còn xảy ra phức tạp ở một số địa phương như Cái Bè, Châu Thành, thị xã Cai Lậy, thành phố Mỹ Tho... Điều tra khám phá 38 vụ, xử lý 39 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 150 triệu đồng. Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy: đã phát hiện, xử lý 15 vụ, 16 đối tượng có hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy; qua công tác quản lý đối tượng đã phát hiện, xử lý hành chính 210 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Tội phạm và vi phạm pháp luật về kinh tế: phát hiện, xử lý 2 vụ, 2 đối tượng tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh hàng cấm; 14 vụ, 14 đối tượng kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc xuất xứ, vận chuyển hàng hóa không hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc. Tệ nạn xã hội: phát hiện 31 tụ điểm cờ bạc, 1 vụ massage kích dục, xử lý hành chính 214 đối tượng; trong đó: đã phát hiện 4 tụ điểm cờ bạc dưới hình thức đánh gà ăn thua bằng tiền với số lượng lớn, xử lý 98 đối tượng.

    7. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an từ 15/8 đến 15/9 như sau:

    Giao thông đường bộ: tai nạn xảy ra 50 vụ, làm chết 26 người, bị thương 36 người; so tháng trước tai nạn tăng 15 vụ, số người chết tăng 2 người, số người bị thương tăng 20 người; so cùng kỳ tai nạn tăng 11 vụ, số người chết tăng 4 người, số người bị thương tăng 8 người. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay xảy ra 296 vụ, làm chết 196 người, bị thương 184 người; so cùng kỳ tai nạn giảm 34 vụ, số người chết tăng 9 người, số người bị thương giảm 61 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 11.251 vụ, giảm 375 vụ so tháng trước và tăng 4.655 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 6.232 vụ, tước giấy phép lái xe 680 vụ, phạt tiền 5.019 vụ với số tiền phạt 4.228 triệu đồng. Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay xảy ra 74.488 vụ, tăng 18.788 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 46.300 vụ, tước giấy phép lái xe 5.680 vụ, phạt tiền 28.172 vụ với số tiền phạt 29.101 triệu đồng.

    Giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 2 vụ tai nạn tương đương so tháng trước, tăng 1 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 5 vụ, giảm 1 vụ so cùng kỳ, làm chết 1 người tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.951 vụ, giảm 501 vụ so tháng trước và giảm 100 vụ so cùng kỳ, đã xử lý lập biên bản tạm giữ giấy tờ 349 vụ và phạt tiền tại chỗ 1.602 vụ với số tiền phạt 162 triệu đồng. Tính từ đầu năm đến nay tổng số vụ vi phạm an toàn giao thông đường thủy là 18.159 vụ, tăng 2.800 vụ so cùng kỳ, đã xử lý lập biên bản tạm giữ giấy tờ 3.229 vụ và phạt tiền 14.930 vụ với số tiền phạt 1.507 triệu đồng.  

    8. Tình hình cháy nổ:

    Trong tháng xảy ra 1 vụ cháy, giảm 1 vụ so tháng trước, tài sản thiệt hại ước tính khoảng 500 triệu đồng, nguyên nhân cháy đang điều tra. Từ đầu năm đến nay xảy ra 29 vụ cháy, tăng 2 vụ so cùng kỳ, tài sản thiệt hại ước tính trên 10,8 tỷ đồng. Vi phạm môi trường phát hiện 8 vụ, đã xử lý 7 vụ với tổng số tiền xử phạt gần 213 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay phát hiện 65 vụ, đã xử lý 48 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1.128 triệu đồng.

                           SL ước tháng 10 - 2017                                                

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 38)
Trang:1 - 2 - 3 - 4Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Tải file Inforgraphic và dự kiến chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội thứ XV, liên quan đến Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thống kê

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 9 năm 2021 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2020 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*)

+19,12

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

-36,3

Trị giá xuất khẩu

-21,5

Trị giá nhập khẩu

-7,8

Khách quốc tế đến Tiền Giang

-100,0

Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước

-63,7

Chỉ số giá tiêu dùng (*)

-0,2

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2021(xem chi tiết):

  - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 6,0 – 7,0% so với năm 2020;

  - GRDP bình quân đầu người đạt 61,8 triệu đồng;

  - Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 3,25 tỷ USD;

  - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 39.650 tỷ đồng;

  - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10.612,3 tỷ đồng;

  - Tổng chi ngân sách địa phương 12.255,56 tỷ đồng; trong đó, chi đầu tư phát triển 3.703,1 tỷ đồng;

  - Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 710 doanh nghiệp.

 

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 74
Truy cập: 825.577
User IP: 18.204.2.231

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn