Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG CUỘC TỔNG ĐIỀU TRA KINH TẾ NĂM 2021 LÀ GÓP PHẦN XÂY DỰNG KẾ HOẠCH CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA ĐỊA PHƯƠNG VÀ CẢ NƯỚC

Thống kê cần cập nhật và theo sát diễn biến kinh tế – VTV1


Các đại biểu thảo luận tại Tổ về một số điều của Luật Thống kê


Sửa Luật Thống kê và những kỳ vọng mới

 

 

 

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2017
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 - 2017
Thứ sáu, Ngày 1 Tháng 12 Năm 2017

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang

tháng 11 năm 2017

    I. KINH TẾ:

    1. Sản xuất nông nghiệp và thủy sản

    a. Nông nghiệp

    Trồng trọt:

    Cây lương thực có hạt: trong tháng gieo trồng 142 ha, thu hoạch 242 ha với sản lượng 1.013 tấn. Ước tính đến cuối tháng 11/2017, toàn tỉnh gieo trồng được 215.074 ha, đạt 103,6% kế hoạch, giảm 2% so cùng kỳ; sản lượng thu hoạch 1.131.821 tấn, đạt 92,5% kế hoạch, giảm 1% so cùng kỳ (diện tích lúa thu đông chưa thu hoạch); trong đó: cây lúa gieo sạ 210.826 ha, đạt 103,78% kế hoạch, thu hoạch 185.245 ha, năng suất bình quân 60,4 tạ/ha với sản lượng 1.118.178 tấn, đạt 92,3% kế hoạch.

    *Vụ Thu Đông: chính thức xuống giống 30.664 ha, tập trung ở các huyện phía đông. Đây là vùng trọng điểm trồng lúa đặc sản và lúa chất lượng cao đáp ứng nhu cầu xuất khẩu của địa phương. Cơ cấu giống lúa: giống lúa đặc sản, chất lượng cao như OM 4900, VND 95-20, Nàng hoa 9... chiếm tỉ lệ 92%; giống lúa thường, như IR 50404 chiếm tỉ lệ 1,5%; giống khác chiếm tỉ lệ 6,5%. Tình hình sâu bệnh: rầy nâu, sâu cuốn lá… xuất hiện rải rác, riêng bệnh cháy lá và bệnh cháy bìa lá tăng so với tháng trước do ảnh hưởng thời tiết mưa, bão; có 156 ha lúa có rầy nâu, 1.049 ha lúa có bệnh cháy lá, tỷ lệ bệnh 5 - 7%, 1.280 ha lúa có bệnh cháy bìa lá, tỷ lệ 5 - 10% ở các huyện Gò Công Tây, Gò Công Đông và Tân Phước.

    * Vụ Đông Xuân 2017-2018: gieo sạ 16.000 ha, ước diện tích gieo trồng toàn tỉnh khoảng 71.500 ha, đây là vụ sản xuất chính trong năm. Địa phương đã xây dựng lịch thời vụ gieo trồng đồng loạt, tránh rầy đồng thời phổ biến đến tận nông dân để bà con chủ động trong sản xuất. Theo đó, các huyện vùng ngập lũ phía Tây và vùng Đồng Tháp Mười tập trung gieo trồng từ ngày 28/11 và dứt điểm vào ngày 8/12; các huyện còn lại gieo trồng từ ngày 10 - 20/12 kết thúc.

    Cây rau đậu các loại: trong tháng gieo trồng được 213 ha, thu hoạch 3.506 ha với sản lượng 63.574 tấn; 11 tháng gieo trồng 54.287 ha, đạt 100,6% kế hoạch, tăng 3,4% so cùng kỳ, thu hoạch 48.778 ha với sản lượng 874.584 tấn, đạt 89,4% kế hoạch, tăng 3,6% so cùng kỳ do nông dân áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nên sản lượng tăng, đảm bảo nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài tỉnh.

    Chăn nuôi:

    Năm 2017 là năm không thuận lợi cho người chăn nuôi, tổng đàn thời điểm 01/10/2017 nhìn chung giảm mạnh so cùng kỳ. Số lượng gia súc, gia cầm toàn tỉnh thời điểm 1/10/2017 so với cùng kỳ và kế hoạch năm như sau:

 

Tổng đàn có đến 01/10/2017

% tăng (+),   giảm (-)           so cùng kỳ

% so kế hoạch 2017

 

(con)

- Đàn trâu

279

+ 2,2

-

- Đàn bò

121.504

- 1,8

105,9

- Đàn lợn

582.088

- 18,7

91,6

- Đàn gia cầm (1.000 con)

11.394

- 12,3

116

    - Đàn lợn: suốt 10 tháng qua giá cả lợn hơi chưa có dấu hiệu hồi phục, giá lợn hơi dao động ở mức 2,6 - 2,9 triệu đồng/tạ làm cho người chăn nuôi thua lỗ không có khả năng bù tái đàn, bình quân lỗ từ 0,8 - 1,2 triệu/con; Đàn gia cầm: mặc dù tình hình dịch bệnh được kiểm soát, đàn gia cầm phát triển tốt, việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi như kỹ thuật đệm lót sinh thái đang được nông dân áp dụng để giảm chi phí, tăng lợi nhuận, mang lại hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường; Đàn bò: từ cuối năm 2016 đến nay, giá bò bắt đầu hạ xuống, hiện đã giảm 40% so thời điểm đầu năm 2016.

    b. Thủy hải sản:

    Diện tích nuôi trồng thủy sản các loại trong tháng 2.179 ha, 11 tháng nuôi 16.061 ha, đạt 100,6% kế hoạch, giảm 0,4% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi được 6.332 ha, giảm 2% so cùng kỳ; trong đó: cá tra công nghiệp 2.157 ha. Thủy sản nước mặn, lợ nuôi được 9.729 ha, tăng 6,8% so cùng kỳ; trong đó: tôm sú 4.515 ha, tôm thẻ 2.594 ha…

    Sản lượng thủy sản tháng 11 ước được 17.420 tấn, ước tính 11 tháng đạt 233.557 tấn, đạt 96,1% kế hoạch, tăng 2,5% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng thu hoạch từ nuôi đạt 141.355 tấn, đạt 97,1% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ; sản lượng khai thác đạt 92.202 tấn, đạt 94,6% kế hoạch, tăng 1,8% so cùng kỳ do thời tiết khá thuận lợi, kết hợp với việc thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ cho ngư dân và các chính sách phát triển thủy sản cũng được đẩy mạnh triển khai.

    2. Sản xuất công nghiệp

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 11 giảm 1,4% so với tháng trước và tăng 11,4% so tháng cùng kỳ năm trước. 11 tháng chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15% so cùng kỳ; bao gồm: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,5%, ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,5%, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,4%.

    Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2017 so với tháng trước giảm 1,51%. Chỉ số tiêu thụ công nghiệp từ đầu năm đến cuối tháng 11 tăng 45,6% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: chế biến bảo quản thủy sản tăng 53%, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 17,7%, sản xuất bia tăng 52,4%, sản xuất sợi tăng 89,8%, sản xuất giày dép tăng 54,1%, sản xuất sản phẩm khác từ gỗ tăng 29,6%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: sản xuất bánh bi hộp số giảm 99,8%, sản xuất đồ chơi, trò chơi giảm 30,1%.

    Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 11/2017 so với tháng trước tăng 16,6% và so với cùng kỳ tăng 51,3%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ: sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản bằng 3,2 lần, sản xuất bia tăng 82,8%, sản xuất sợi tăng 7%, may trang phục tăng 0,9%, sản xuất giày dép tăng 51,3%, sản xuất mô tơ tăng 59,4%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: chế biến bảo quản thủy sản giảm 57,5%, sản xuất va ly túi xách giảm 33,7%, sản xuất sản phẩm khác từ gỗ giảm 19,1%, sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 74,9%, sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 8%, sản xuất kim loại giảm 27,3%...

    3. Đầu tư - Xây dựng

    Tổng vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý, trong tháng thực hiện được 338,7 tỷ đồng. 11 tháng thực hiện 2.230,6 tỷ đồng, đạt 89,1% kế hoạch, tăng 20,4% so cùng kỳ; trong đó:

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh thực hiện 1.761,2 tỷ đồng, tăng 25,8% so cùng kỳ, chiếm 79% trong tổng số; trong đó: vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 295,1 tỷ đồng, tăng 9,9%, vốn xổ số kiến thiết thực hiện 772,8 tỷ đồng, tăng 28,9%... Các công trình thi công hoàn thành các chủ đầu tư chủ động giải ngân kịp thời đúng tiến độ và thời gian theo quy định đối với các công trình trong kế hoạch sớm đưa công trình vào sử dụng phát huy hiệu quả đầu tư.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp huyện thực hiện 300,3 tỷ đồng, giảm 2,7% so cùng kỳ, chiếm 13,4% tổng số; trong đó: vốn tỉnh hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 103,8 tỷ đồng, giảm 26,3%... các huyện đang tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình đang xây dựng nhằm hạn chế tình trạng ứ động vốn phải chuyển sang năm sau.

    Nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp xã thực hiện 169,1 tỷ đồng, tăng 17,4% so cùng kỳ, chiếm 7,6% trong tổng số; trong đó: vốn huyện hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu thực hiện 128,7 tỷ đồng, tăng 17%... theo kế hoạch vốn giao từ đầu năm các địa phương chủ động vận động nhân dân đóng góp nguồn vốn để thực hiện các tuyến đường giao thông nông thôn để sớm đưa vào sử dụng.

    4. Thương mại - Gía cả - Dịch vụ

    a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội:

    Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội trong tháng thực hiện được 4.688,7 tỷ đồng, tăng 7,6% so cùng kỳ; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa 3.809,6 tỷ đồng, tăng 7,5%. Mười một tháng tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện 51.104,8 tỷ đồng, đạt 90,5% kế hoạch, tăng 6,1% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 4.264,4 tỷ đồng, tăng 3,7% so cùng kỳ, kinh tế ngoài nhà nước 46.567,8 tỷ đồng, tăng 6,4%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 272,6 tỷ đồng, giảm 1,5%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 41.358,9 tỷ đồng, tăng 5,6%; lưu trú 86,2 tỷ đồng, tăng 15,5%; ăn uống 4.782 tỷ đồng, tăng 13,8%; du lịch lữ hành 67,6 tỷ đồng, tăng 15,4%; dịch vụ 4.810,1 tỷ đồng, tăng 3,1% so cùng kỳ.

    b. Xuất - Nhập khẩu:

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 11 thực hiện được 229 triệu USD, tăng 2,7% so tháng trước. 11 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện 2.288,4 triệu USD, đạt 97,4% kế hoạch, tăng 23,3% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước thực hiện 78 triệu USD, gấp 7,6 lần so cùng kỳ; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 658,4 triệu USD, tăng 24,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 1.512 triệu USD, tăng 17,9% so cùng kỳ.

    Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh cụ thể như sau:

    - Thủy sản: ước tính tháng 11 xuất 14.617 tấn, tăng 0,5% so tháng trước; 11 tháng xuất 131.392 tấn, tăng 6,2% so cùng kỳ, về trị giá đạt 377,7 triệu USD, tăng 51,6% so cùng kỳ. Thị trường chủ yếu xuất khẩu thủy sản là Trung Quốc và một số thị trường khác tiêu thụ mạnh, nhu cầu thu mua nguyên liệu để chế biến xuất khẩu từ các doanh nghiệp tăng phục vụ các đơn hàng cuối năm, trong khi nguồn cung hạn chế nên giá cá tra nguyên liệu có trọng lượng từ 0,8 - 0,9 kg/con được thương lái thu mua dao động từ 27 - 28 ngàn đồng/kg làm cho người nuôi lãi từ 4 - 6 ngàn đồng/kg.

    - Gạo: ước tính tháng 11 xuất 38.897 tấn, giảm 16,3% so tháng trước; 11 tháng xuất 297.636 tấn, tăng 162,7%, về trị giá đạt 136,6 triệu USD, tăng 159,3% so cùng kỳ. Nhu cầu xuất khẩu gạo những tháng cuối năm tăng mạnh khiến nhiều doanh nghiệp tìm kiếm nguồn nguyên liệu để cung ứng cho các hợp đồng xuất khẩu gạo đã ký kết. Về giá xuất gạo xuất khẩu bình quân năm 2017 bình quân đạt 457,6 USD/tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm 2016.

    - May mặc: ước tính tháng 11 xuất 6.990 ngàn sản phẩm, tăng 7,8% so tháng trước; 11 tháng xuất 74.360 ngàn sản phẩm, giảm 7,1% so cùng kỳ, về giá trị đạt 439,2 triệu USD, giảm 5,3% so cùng kỳ. Một trong những khó khăn của ngành dệt may trên địa bàn tỉnh là định hướng phát triển chưa đáp ứng được sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu của thị trường do thiếu sự cạnh tranh và thu hút đối với người lao động, chi phí đầu vào cũng như phí vận chuyển cao, việc tiếp cận nguồn vốn còn gặp nhiều khó khăn.

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa trong tháng đạt 76,1 triệu USD, tăng 14,4% so tháng trước. 11 tháng, kim ngach nhập khẩu đạt 987,3 triệu USD, đạt 75,9% kế hoạch, giảm 4,7% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước đạt 137,3 triệu USD, giảm 37,2%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 850 triệu USD, tăng 4% so cùng kỳ. Nhập khẩu 11 tháng phân theo ngành sản xuất kinh doanh chính gồm 2 ngành: công nghiệp chế biến chế tạo và thương nghiệp bán buôn bán lẻ, trong đó tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo chiếm 99% tổng kim ngạch; trong đó: trị giá hàng nhập khẩu cho ngành sản xuất chế biến thực phẩm đạt 95 triệu USD; ngành may mặc 220 triệu USD...

    c. Giá cả:

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10 tăng 0,19% so tháng 9 (thành thị tăng 0,23%, nông thôn tăng 0,18%), so cùng kỳ tăng 3,66%, so tháng 12 năm 2016 tăng 2,88%, bình quân 10 tháng 2017 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,92%.

    So với tháng 9/2017, trong tháng 10 có 7/11 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, tăng cao nhất là nhóm giao thông tăng 0,7%; kế đến là nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,67%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,1%... Có 3 nhóm giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,04%; văn hóa, giải trí, du lịch giảm 0,24% và nhóm hàng hóa, dịch vụ khác giảm 0,16%. Chỉ có nhóm Giáo dục chỉ số giá ổn định.

    Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 tăng chủ yếu do:

    - Giá rau xanh tăng từ 10% - 15%, so tháng trước vì thời tiết tại tỉnh mưa nhiều ảnh hưởng đến năng suất thu hoạch một số loại rau xanh bị giảm; đặc biệt một số tỉnh miền trung bị ảnh hưởng mưa, bảo, lũ lụt kéo dài, dẫn đến nguồn cung bị hạn chế tác động giá rau xanh tăng. Cùng với đó, giá thịt gia cầm, thủy hải sản tươi sống và thủy sản chế biến tăng... nên đẩy chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,08% so với tháng trước.

    - Đầu tháng 10/2017 giá gas trong nước tăng 9,47% (tăng 28.000 đồng/bình 12 kg bình màu xám); giá dầu hỏa tăng 4,08% (ngày 05/10 tăng 320 đồng/lít, ngày 20/10/2017 giảm 440 đồng/lít, nhưng do chu kỳ tính CPI nên chỉ số giá dầu hỏa tháng này vẫn còn tăng so tháng trước) tác động đến chỉ số giá nhóm gas và các loạt chất đốt khác tăng 7,36%, đóng góp tăng 0,07% vào mức tăng chung của chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017.

    - Mặc dù giá xăng dầu tháng này biến động 2 lần vào ngày 05/10 và ngày 20/10/2017, tính chung: xăng giảm: 240 đồng/lít, dầu Diezen 0,05S giảm 30 đồng/lít, nhưng do chu kỳ tính chỉ số giá tiêu dùng giá xăng dầu trong nước tháng này vẫn còn chịu tác động của mức tăng giá vào ngày 20/9/2017: giá xăng tăng 320 đồng/lít, dầu diezen 0,05S tăng 490 đồng/lít, dẫn đến nhóm nhiên liệu tăng 1,34%, đẩy chỉ số giá nhóm hàng giao thông tăng 0,7%, đóng góp tăng 0,06% vào mức tăng chung của chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2017.

    Bên cạnh đó, cũng có một số nguyên nhân làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 giảm như:

    - Giá thịt lợn giảm 1,71% do nguồn cung trong nước dồi dào.

    - Giá cát sau khi tăng mạnh ở các tháng trước, tháng này đã giảm từ 8% đến 10%.

    - Giá vé ô tô khách giảm 1,81% do tháng trước nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9, Công ty CP vận tải ô tô Tiền Giang tăng thêm phụ thu 40% giá vé trong 2 ngày (ngày 3 - 4/9), qua Lễ giá vé trở lại như những ngày bình thường...

    Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 10 giảm 1,22% so tháng trước, giá bình quân 3,55 triệu đồng/chỉ (tăng 47 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ).

    Chỉ số đô la Mỹ trong tháng 10 giảm 0,01% so tháng trước, giá bình quân 22.760 đồng/USD (tăng 420 đồng/USD so cùng kỳ).

    d. Du lịch:

    Khách du lịch đến trong tháng được 138,1 ngàn lượt khách, tăng 2,3% so tháng trước và tăng 2,9% so cùng kỳ; trong đó: khách du lịch quốc tế 44,5 ngàn lượt khách, tăng 2% so tháng trước và giảm 3,6% so cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành trong tháng đạt 453,1 tỷ đồng, tăng 2,9% so tháng trước và tăng 9,5% so cùng kỳ.

    Tính chung 11 tháng, lượt khách du lịch đến Tiền Giang là 1.529,6 ngàn lượt khách, đạt 83,7% kế hoạch, tăng 5,1% so cùng kỳ; trong đó: khách quốc tế 513,3 ngàn lượt khách, đạt 78,4% kế hoạch, tăng 6,6%. Tổng doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ lữ hành đạt 4.935,8 tỷ đồng, tăng 13,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu về dịch vụ ăn uống chiếm 96,9%.

    e. Vận tải:

    Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải trong tháng thực hiện 176,1 tỷ đồng, tăng 1,4% so tháng trước. 11 tháng thực hiện 1.865,7 tỷ đồng, tăng 4,2% so cùng kỳ; trong đó cơ sở kinh tế cá thể thực hiện 981 tỷ đồng, tăng 1%. Vận tải đường bộ thực hiện 1.055,3 tỷ đồng, tăng 2,9% so cùng kỳ; vận tải đường sông thực hiện 707 tỷ đồng, tăng 3,6%; vận tải đường biển thực hiện 103,4 tỷ đồng, tăng 25,8% so cùng kỳ.

    Vận chuyển hành khách trong tháng đạt 2.436 ngàn lượt khách, tăng 2,5% so tháng trước và luân chuyển được 85.504 ngàn lượt khách.km, tăng 0,5% so tháng trước; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể đạt 1.837 ngàn lượt khách, tăng 3,1% và luân chuyển được 65.488 ngàn lượt khách.km, tăng 0,5%. Mười một tháng vận chuyển hành khách đạt 27.262 ngàn lượt khách, giảm 1,1% so cùng kỳ và luân chuyển được 978.140 ngàn lượt khách.km, giảm 2,8% so cùng kỳ; trong đó vận chuyển của cơ sở kinh tế cá thể đạt 20.574 ngàn lượt khách, tăng 2,9% và luân chuyển được 758.259 ngàn lượt khách.km, giảm 3,1% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 18.254 ngàn lượt khách, giảm 6,5% và luân chuyển được 962.938 ngàn lượt khách.km, giảm 2,9% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 9.008 ngàn lượt khách, tăng 11,9% và luân chuyển được 15.202 ngàn lượt khách.km, tăng 6,8% so cùng kỳ.

    Vận tải hàng hóa trong tháng đạt 1.289 ngàn tấn, tăng 0,8% so tháng trước và luân chuyển được 127.202 ngàn tấn.km, tăng 1% so tháng trước; trong đó cơ sở kinh tế cá thể đạt 556 ngàn tấn, tăng 1,4% và luân chuyển được 42.880 ngàn tấn.km, tăng 2,6% so tháng trước. 11 tháng vận tải hàng hóa đạt 13.823 ngàn tấn, tăng 5,6% và luân chuyển được 1.317.534 ngàn tấn.km, tăng 3,4% so cùng kỳ; trong đó vận tải của cơ sở kinh tế cá thể đạt 6.038 ngàn tấn, tăng 12,9% và luân chuyển được 419.713 ngàn tấn.km, tăng 4,5% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 4.204 ngàn tấn, tăng 20,1% và luân chuyển được 311.149 ngàn tấn.km, tăng 10,9% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 9.619 ngàn tấn, tăng 0,3% so cùng kỳ và luân chuyển được 1.006.385 ngàn tấn.km, tăng 1,3% so cùng kỳ.

    f. Bưu chính viễn thông:

    Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông trong tháng đạt 186,6 tỷ đồng, tăng 0,3% so tháng trước. 11 tháng doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 2.078,4 tỷ đồng, tăng 20,9% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính 92,8 tỷ đồng, tăng 64,1%, viễn thông 1.985,6 tỷ đồng, tăng 19,4% so cùng kỳ.

    Thuê bao điện thoại trong tháng tăng 1.330 thuê bao; trong đó: thuê bao cố định giảm 1.450 thuê bao. Tổng số thuê bao có trên mạng đến cuối tháng 11 là 120.584 thuê bao, mật độ bình quân đạt 6,9 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Thuê bao Internet trong tháng phát triển mới 9.068 thuê bao, thuê bao Internet có trên mạng cuối tháng 11 là 152.883 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 8,8 thuê bao/100 dân.

    5. Tài chính - Ngân hàng:

    a. Tài chính:

    Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng thực hiện 745 tỷ đồng; trong đó: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 585 tỷ đồng, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 167 tỷ đồng. 11 tháng, thu 11.020,8 tỷ đồng, tăng 6,3% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 6.748,2 tỷ đồng, đạt 95,8% dự toán và tăng 9,4% so cùng kỳ, thu nội địa 6.480,3 tỷ đồng, đạt 96,8% dự toán năm (đạt 90,8% dự toán phấn đấu năm), tăng 10,3% so cùng kỳ; (trong thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.001 tỷ đồng, đạt 102,1% dự toán, tăng 12,3% so cùng kỳ; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 895,8 tỷ đồng, đạt 80,9% dự toán, tăng 5,5% so cùng kỳ).

    Tổng chi ngân sách nhà nước trong tháng 985 tỷ đồng; trong đó: chi đầu tư phát triển 400 tỷ đồng. 11 tháng chi 8.438,8 tỷ đồng, đạt 97,4% dự toán, tăng 11,3% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.447,3 tỷ đồng, đạt 93,4% dự toán, tăng 13,7% so cùng kỳ; chi hành chánh sự nghiệp 4.974,9 tỷ đồng, đạt 91% dự toán và tăng 15,7% so cùng kỳ.

    b. Ngân hàng:

    Tổng thu tiền mặt trong tháng thực hiện được 19.000 tỷ đồng, 11 tháng thực hiện được 226.023 tỷ đồng, tăng 16,4% so cùng kỳ. Tổng chi tiền mặt trong tháng được 19.700 tỷ đồng, 11 tháng thực hiện được 226.308 tỷ đồng, tăng 15,9% so cùng kỳ.

    Tính đến ngày 10/11/2017, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 55.763 tỷ đồng, tăng 177 tỷ đồng so cuối tháng 10/2017; ước đến cuối tháng 11 tổng nguồn vốn huy động đạt 55.863 tỷ đồng, tăng 546 tỷ đồng so cuối tháng 10/2017. Đến ngày 10/11/2017, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 40.234 tỷ đồng, tăng 11 tỷ đồng so cuối tháng 10/2017; ước đến cuối tháng 11/2017 nhu cầu vốn để phục vụ sản xuất hoàng hóa các dịp Lễ, Tết sẽ tăng cao, do đó, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 40.849 tỷ đồng, tăng 603 tỷ đồng so với tháng 10/2017; trong đó, dư nợ trung và dài hạn chiếm trên 43%.

    II. CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động việc làm:

    Trong tháng đã giới thiệu việc làm cho 468 lượt lao động, có 2.265 lao động có được việc làm ổn định, có 25 lao động xuất cảnh chính thức, có 834 người đăng ký thất nghiệp và đã ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.057 người với tổng số tiền chi trả tương đương 11.759 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay giới thiệu việc làm cho 4.203 (nữ là 2.113 lao động, đạt 84% kế hoạch năm), có 2.265 lao động có được việc làm ổn định, có 155 lao động xuất cảnh (đạt 103,3% kế hoạch năm), có 11.877 người đăng ký thất nghiệp và đã ra quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 11.778 người với tổng số tiền chi trả tương đương 126.192 triệu đồng.

    2. Chính sách xã hội:

    Trong tháng, vận động quỹ “đền ơn đáp nghĩa” với số tiền 1.100 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm đến nay là 12.600 triệu đồng, đạt 126% kế hoạch. Tổ chức bàn giao đưa vào sử dụng 13 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 520 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm là 115 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 4.640 triệu đồng, đạt 88,5% kế hoạch; sửa chữa 1 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 20 triệu đồng, lũy kế từ đầu năm đến nay đã sửa chữa 69 ngôi nhà tình nghĩa đạt 197,1% kế hoạch với tổng kinh phí 1.460 triệu đồng.

    3. Chăm sóc sức khỏe:

    Công tác phòng chống dịch bệnh được ngành y tế trang bị đầy đủ các phương tiện, vật tư, hóa chất, nhân lực để phục vụ tốt công tác khám chữa bệnh. So với cộng dồn cùng kỳ có 12 bệnh tăng (bệnh quai bị tăng 147,6%, bệnh thương hàn tăng 88,9%, bệnh tay chân miệng tăng 83,8%, bệnh thủy đậu tăng 76,9%...), và 7 bệnh giảm (bệnh rubella giảm 99,2%, bệnh cúm giảm 98%, bệnh uốn ván không phải sơ sinh giảm 61,9%, bệnh viêm não vi rút 42,9%, bệnh tiêu chảy giảm 21,9%...), và 9 bệnh tương đương không xảy ra cas mắc.

    Từ đầu năm đến nay đã khám bệnh cho 5.258.875 lượt người, tăng 10,2% so cùng kỳ, trong đó: điều trị nội trú là 224.384 lượt người, tăng 4,8%. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được ngành y tế quan tâm, trong tháng tổng số lượt cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra là 1.025 lượt, có 95,7% cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, trong tháng xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm với 15 người mắc tại công ty Knitpassion huyện Tân Phước. 

    Một số bệnh truyền nhiễm: bệnh sốt xuất huyết đang diễn biến phức tạp, trong tháng đã xảy ra 235 cas, tử vong 1 cas sốt xuất huyết, cộng dồn cas mắc 2.845 cas, tăng 33,3% so cùng kỳ; bệnh HIV có 38 cas nhiễm mới, cộng dồn có 259 cas nhiễm mới. Từ đầu năm đến nay tổng số cas nhiễm HIV là 4.741 người, tổng số cas AIDS là 1.707 người, tử vong 925 người…

    4. Giáo dục - Đào tạo:

    Trong tháng công tác dạy và học trong ngành tiếp tục ổn định và đi vào nền nếp; tiếp tục thực hiện Chỉ thị về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2017-2018; tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với việc tổ chức học tập về những nội dung cơ bản các cuộc vận động và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực; tổ chức thực hiện ngày pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2017; họp mặt kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11.

    5. Văn hóa - thể thao:

    Trong tháng đã tập trung tổ chức các hoạt động trọng tâm như: Tiếp tục kiểm tra, thẩm định tiêu chí số 6, 16 các xã điểm xây dựng nông thôn mới và kiểm tra các dịch vụ kinh doanh gây tiếng ồn trên địa bàn tỉnh; tuyên truyền ngày Pháp luật Việt Nam (09/11), ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930-18/11/2017); tổ chức lễ hội làng cổ Đông Hòa Hiệp lần thứ III và Đại hội Thể dục Thể thao cấp huyện lần VIII năm 2017… Đội thông tin lưu động tỉnh biểu diễn phục vụ thêm 30 đêm “dịch vụ văn hóa gây tiếng ồn, thực hiện 52 băng khẩu hiệu tuyên truyền các ngày kỷ niệm và sự kiện của tỉnh, sinh hoạt 16 buổi, có trên 300 lượt người đến tham gia.

    6. Tình hình trật tự an toàn xã hội:

    Trong tháng tội phạm về trật tự xảy ra 75, làm chết 2 người, bị thương 5 người, tài sản thiệt hại trị giá khoảng 3,6 tỷ đồng; trong đó, đã xảy ra 2 vụ giết người do mâu thuẫn trong vay mượn nợ và đối tượng phạm tội có dấu hiệu bị bệnh tâm thần;... Điều tra khám phá 45 vụ, xử lý 50 đối tượng, thu hồi tài sản trị giá khoảng 430 triệu đồng. Tệ nạn xã hội: phát hiện 60 tụ điểm cờ bạc, xử lý hành chính 391 đối tượng; trong đó, đã phát hiện, xử lý 5 tụ điểm cờ bạc dưới hình thức đá gà ăn thua bằng tiền với số lượng lớn trên địa bàn huyện Cái Bè, Cai Lậy, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông và thị xã Gò Công, xử lý 141 đối tượng.

    7. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của Ngành công an đến 15/10 như sau:

    Giao thông đường bộ: tai nạn giao thông trong tháng xảy ra 34 vụ, giảm 16 vụ so với tháng trước và tăng 2 vụ so cùng kỳ; làm chết 27 người, tăng 1 người so tháng trước và giảm 6 người so cùng kỳ; bị thương 16 người, giảm 20 người so với tháng trước và giảm 6 người so cùng kỳ. Tổng số vụ từ đầu năm đến nay xảy ra 330 vụ, giảm 32 vụ so cùng kỳ; làm chết 223 người, tăng 18 người so cùng kỳ; bị thương 200 người, giảm 67 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trong tháng xảy ra 9.194 vụ, giảm 2.057 vụ so tháng trước và tăng 2.446 vụ so cùng kỳ; đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 4.785 vụ, tước giấy phép lái xe 714 vụ, phạt tiền 4.409 vụ với số tiền phạt 3.370 triệu đồng. Tổng số vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ từ đầu năm đến nay xảy ra 83.682 vụ, tăng 21.234 vụ so cùng kỳ; đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 51.085 vụ, tước giấy phép lái xe 6.394 vụ, phạt tiền 32.581 vụ với số tiền phạt 33070 triệu đồng.

    Giao thông đường thủy: trong tháng xảy ra 2 vụ tai nạn, tương đương so với tháng trước, tăng 2 vụ so cùng kỳ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 7 vụ tai nạn tăng 1 vụ so cùng kỳ; làm chết 1 người, tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy trong tháng xảy ra 1.825 vụ, giảm 126 vụ so tháng trước và giảm 135 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm: lập biên bản tạm giữ giấy tờ 326 vụ và phạt tiền tại chỗ 1.499 vụ với số tiền phạt: 150,8 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay tổng số vụ vi phạm an toàn giao thông đường thủy là 19.984 vụ tăng 2.665 vụ so cùng kỳ; đã xử lý vi phạm lập biên bản tạm giữ giấy tờ 3.555 vụ và phạt tiền 16.429 vụ với số tiền phạt 1.657,8 triệu đồng.

    8. Tình hình cháy nổ:

    Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy nổ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 29 vụ cháy, tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính trên 10,8 tỷ đồng. Tổng số vụ vi phạm môi trường được phát hiện từ đầu năm đến nay là 65 vụ, đã xử lý 48 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1.128 triệu đồng. Vi phạm chủ yếu do xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật, không có văn bản báo cáo cơ quan đã phê duyệt đề án bảo vệ môi trường, gây tiếng ồn vượt chuẩn cho phép, khai thác cát làm vật liệu xây dựng thông thường không giấy phép, không thực hiện báo cáo định kỳ theo quy định, thực hiện không đúng quan trắc nước dưới đất, khai nước dưới đất không giấy phép hoặc vượt lưu lượng cho phép, lấn chiếm đất...

SL uoc thang 11 - 2017

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 38)
Trang:1 - 2 - 3 - 4Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Tải file Inforgraphic và dự kiến chương trình kỳ họp thứ 2, Quốc hội thứ XV, liên quan đến Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thống kê

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 9 năm 2021 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2020 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*)

+19,12

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

-36,3

Trị giá xuất khẩu

-21,5

Trị giá nhập khẩu

-7,8

Khách quốc tế đến Tiền Giang

-100,0

Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước

-63,7

Chỉ số giá tiêu dùng (*)

-0,2

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội năm 2021(xem chi tiết):

  - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 6,0 – 7,0% so với năm 2020;

  - GRDP bình quân đầu người đạt 61,8 triệu đồng;

  - Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 3,25 tỷ USD;

  - Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 39.650 tỷ đồng;

  - Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10.612,3 tỷ đồng;

  - Tổng chi ngân sách địa phương 12.255,56 tỷ đồng; trong đó, chi đầu tư phát triển 3.703,1 tỷ đồng;

  - Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 710 doanh nghiệp.

 

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 79
Truy cập: 825.623
User IP: 18.204.2.231

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn