Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

TÍCH CỰC THAM GIA TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019 LÀ GÓP PHẦN XÂY DỰNG TƯƠNG LAI CHO ĐẤT NƯỚC VÀ MỖI CHÚNG TA

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2018
Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018
Thứ sáu, Ngày 28 Tháng 9 Năm 2018

    A. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ

    1. Tăng trưởng kinh tế:

    Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng đầu năm 2018 ước đạt 43.388 tỷ đồng, (giá so sánh năm 2010) tăng 7,4% so với 9 tháng đầu năm 2017, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 13,3% và khu vực dịch vụ tăng 6,3% (bao gồm thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm); Nếu tách riêng thuế sản phẩm thì khu vực dịch vụ tăng 6,2% và thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,9% so cùng kỳ. Trong 7,4% tăng trưởng thì khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 17,7%, khu vực công nghiệp và xây dựng đóng góp 56,3%, khu vực dịch vụ đóng góp 22,8% và thuế là 3,2%. GRDP nếu tính theo giá hiện hành đạt 61.574 tỷ đồng. 

    Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo đúng định hướng, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và giảm tỷ trọng nông nghiệp. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 38,6% (cùng kỳ 40,2%); khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 31,5% (cùng kỳ 29,7%); khu vực dịch vụ chiếm 26,6% (cùng kỳ 26,8%); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 3,3%, tương đương so cùng kỳ.

    2. Tài chính - Ngân hàng:

    a. Tài chính:

    Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng ước đạt 9.810 tỷ đồng, đạt 87,9% dự toán, tăng 2,6% so cùng kỳ; trong đó: thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 6.314 tỷ đồng, đạt 79,1% dự toán và tăng 14,5% so cùng kỳ, thu nội địa 6.050 tỷ đồng, đạt 79,5% dự toán, tăng 14,3% so cùng kỳ (trong thu ngân sách nhà nước trên địa bàn: thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.925 tỷ đồng, đạt 83,4% dự toán, tăng 18,8% so cùng kỳ; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 771 tỷ đồng, đạt 58,9% dự toán, tăng 6% so cùng kỳ). Các khoản thu đáp ứng đầy đủ nhu cầu chi tiêu của tỉnh, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

    Tổng chi ngân sách nhà nước 9 tháng đạt 7.151 tỷ đồng, đạt 70,1% dự toán, tăng 10,2% so cùng kỳ; trong đó: chi đầu tư phát triển 2.306 tỷ đồng, đạt 68,1% dự toán, tăng 30,8% so cùng kỳ; chi hành chánh sự nghiệp 4.242 tỷ đồng, đạt 72% dự toán và tăng 6,6% so cùng kỳ.

    b. Ngân hàng:

    Theo báo cáo của ngân hàng Nhà nước chi nhánh Tiền Giang, so với hệ thống ngân hàng các tỉnh ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, Tiền Giang là một trong những tỉnh có nguồn vốn huy động cao và các ngân hàng đa số đều ở trong tình trạng thừa vốn. Lãi suất huy động vẫn ổn định, một số ngân hàng thương mại cổ phần có tăng lãi suất ở kỳ hạn dài nhưng mức tăng không đáng kể, tiền gửi tiết kiệm vẫn tăng trưởng so với đầu năm, tiền gửi thanh toán giảm so với đầu năm do ảnh hưởng kéo theo từ tình hình an ninh trật tự thời gian gần đây và do tìm kiếm lợi nhuận cao hơn từ đầu tư vào các lĩnh vực khác. Đến 31/8/2018, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 58.716 tỷ đồng, tăng 883 tỷ đồng so đầu năm, tỷ lệ tăng 1,5%. Ước đến cuối tháng 9/2018, tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đạt 58.990 tỷ đồng, tăng 1.157 tỷ đồng so với đầu năm, tỷ lệ tăng 2% (kế hoạch tăng 5%); so cùng kỳ tăng 4.374 tỷ đồng, tỷ lệ tăng 8%...

    Trong 9 tháng, nhu cầu vay vốn của các thành phần kinh tế có tăng trưởng, hoạt động tín dụng của các ngân hàng tương đối thuận lợi. Trong những tháng đầu năm tín dụng giảm nhưng gần đây tín dụng đã tăng trở lại và có xu hướng tiếp tục tăng vào những tháng cuối năm do nhu cầu về vốn ngắn hạn phục vụ sản xuất kinh doanh. Đến 31/8/2018, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 46.464 tỷ đồng, tăng 4.387 tỷ đồng so với đầu năm, tỷ lệ tăng 10,4%; trong đó dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 26.469 tỷ đồng, chiếm 57% trên tổng dư nợ. Ước đến cuối tháng 9/2018, tổng dư nợ cho vay toàn tỉnh đạt 46.285 tỷ đồng, tăng 4.208 tỷ đồng so với đầu năm, tỷ lệ tăng 10%, so cùng kỳ tăng 6.360 tỷ đồng, tăng 15,9%. Đến 6/9/2018, nợ xấu chiếm tỷ lệ 0,54% trên tổng dư nợ cho vay, so với đầu năm giảm 0,02%, với số dư 250 tỷ đồng, tăng 16 tỷ đồng so đầu năm.

    3. Giá cả, lạm phát:

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 tăng 0,32% so tháng 7 (khu vực thành thị tăng 0,39%, khu vực nông thôn tăng 0,3%); so cùng kỳ tăng 4,35%; so tháng 12 năm 2017 tăng 2,35%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2018 so cùng kỳ năm trước tăng 4,36%.

    So với tháng 7 có 7/11 nhóm hàng hóa có chỉ số tăng, tăng cao nhất là nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,68%; kế đến là nhóm giáo dục tăng 0,36%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,28%; giao thông tăng 0,13%... Có 2/11 nhóm hàng có chỉ số giảm: bưu chính viễn thông giảm 0,02% và nhóm hàng hóa dịch vụ khác giảm 0,16%. Có 2/11 nhóm hàng có chỉ số giá ổn định là nhóm đồ uống, thuốc lá và nhóm văn hóa, giải trí, du lịch.

    Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8 tăng chủ yếu do:

    + Giá thịt lợn tăng 3,33%, do nguồn cung hạn chế, cùng với đó, giá thịt gia cầm tươi sống tăng 1,43%, thịt chế biến tăng 0,89%... tác động đến nhóm thực phẩm tăng 1,14%, góp phần làm tăng chỉ số giá chung tăng 0,25%.

    + Giá gas tăng 11.000 đồng/bình 12 kg (tăng 3,43%) vào ngày 01/8/2018, giá dầu hỏa tăng thêm 440 đồng/lít so tháng trước, tác động chỉ số giá gas và các loại chất đốt khác tăng 2,67%, góp phần làm tăng chỉ số giá chung 0,03%.

    + Bước vào năm học mới 2018-2019 nhóm hàng văn phòng phẩm tăng 2,42%; trong đó: vở, tập, viết tăng 4,65%... Nhu cầu về nhà trọ cho sinh viên để ở tăng dẫn đến giá nhà ở thuê tăng 0,29% so tháng trước.

    Bên cạnh đó, có một số nhóm hàng chỉ số giá giảm nhưng tỷ trọng quyền số nhỏ nên tác động chưa đủ lớn đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) chung như: địa phương đang vào mùa thu hoạch lúa vụ Xuân Hè, nguồn cung dồi dào, dẫn đến giá gạo giảm 0,74% so tháng trước; thời tiết tại Tiền Giang có mưa nhiều, nên nhu cầu sử dụng nước máy sinh hoạt của hộ gia đình ít hơn tháng trước, dẫn đến chỉ số giá nước sinh hoạt giảm 1,14%.

    Chỉ số giá vàng 24 kara Ngọc Thẩm trong tháng 8 giảm 2,15% so tháng trước, giá bình quân 3.455 ngàn đồng/chỉ, giảm 25 ngàn đồng/chỉ so cùng kỳ.

    Chỉ số giá đô la Mỹ trong tháng 8 tăng 1,05% so tháng trước, giá bình quân 23.270 đồng/USD, tăng 506 đồng/USD so cùng kỳ.

    4. Đầu tư và xây dựng:

    Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 9 tháng ước thực hiện 20.331 tỷ đồng (trong đó: vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 1.821 tỷ đồng, chiếm 9%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 4.041 tỷ đồng, chiếm 19,9%), đạt 64,5% kế hoạch, giảm 0,6% so cùng kỳ. Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý III/2018 là 7.936 tỷ đồng, giảm 1,6% so cùng kỳ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước theo kế hoạch được phân bổ đầu năm đến nay đã triển khai 488 công trình dự án, trong đó có 162 công trình chuyển tiếp; các ban quản lý tỉnh làm chủ đầu tư 144 công trình. Tám tháng đã triển khai và hoàn thành trên 9% công trình. Các công trình còn lại đang tiếp tục thi công, tổ chức lựa chọn nhà thầu hoặc đang tiến hành công tác giải phóng mặt bằng.

    Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 9 tháng ước thực hiện 1.750,1 tỷ đồng, đạt 61,7% kế hoạch, tăng 10,8% so cùng kỳ; trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.384 tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng số, vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 240,9 tỷ đồng, chiếm 13,8%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã 125,2 tỷ đồng, chiếm 7,1%. Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý quý I: 351 tỷ đồng, tăng 2,9%; quý II: 547 tỷ đồng, tăng 16,4%; quý II: 852,1 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ

    Đến cuối tháng 8, trên địa bàn tỉnh thu hút được 21 dự án, tăng 9 dự án so cùng kỳ với tổng vốn đầu tư đăng ký 2.620,6 tỷ đồng, tăng 48,3% và có 7 dự án (tăng 1 dự án) đăng ký tăng vốn 1.534,7 tỷ đồng (giảm 3,5% so với cùng kỳ).

    5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp:

    Tổng số doanh nghiệp thành lập mới từ đầu năm đến ngày 13/9/2018 là 492 doanh nghiệp, với tổng vốn đăng ký 3.326,1 tỷ đồng. Ước thực hiện 9 tháng đầu năm có 545 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 3.475,8 tỷ đồng, đạt 75% so với kế hoạch năm 2018, tăng 15% về số doanh nghiệp và tăng 88,9% về vốn đăng ký so cùng kỳ. Vốn đầu tư bình quân là 6,8 tỷ đồng/doanh nghiệp (cùng kỳ năm 2017 là 3,9 tỷ đồng/doanh nghiệp); có 621 đơn vị trực thuộc đăng ký hoạt động (113 chi nhánh, 21 văn phòng đại diện và 487 địa điểm kinh doanh), so cùng kỳ năm trước tăng 87,6%. Bên cạnh đó, ước thực hiện 9 tháng có 161 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn tăng thêm là 2.337,9 tỷ đồng, tăng 6% về số doanh nghiệp và tăng gấp đôi về số vốn so cùng kỳ.

    Toàn tỉnh hiện có 1 liên hiệp HTX và 155 HTX, quỹ tín dụng nhân dân, tăng 35% so cùng kỳ; có 565 tổ hợp tác, trong đó có 433 tổ hợp tác kinh tế hoạt động trên các lĩnh vực theo đúng Nghị định 151/2007/NĐ-CP ngày 10/10/2007 của Chính phủ, các tổ hợp tác còn lại chỉ hoạt động theo mùa vụ.

    6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:

    a. Nông nghiệp:

    Cây lương thực có hạt: đến cuối tháng 9 gieo trồng 206.036 ha, đạt 103% kế hoạch, giảm 3,8% so cùng kỳ do chuyển đổi cơ cấu cây trồng là chủ yếu; trong đó cây lúa 201.794 ha, đạt 100,4% kế hoạch, giảm 4% so cùng kỳ. Sản lượng cây lương thực có hạt đã thu hoạch được 1.116.132 tấn, đạt 92% kế hoạch (vụ Thu Đông chưa thu hoạch); chủ yếu là sản lượng lúa đạt 1.103.199 tấn, đạt 92,1% kế hoạch, giảm 0,1% so cùng kỳ. Tình hình sản xuất cây lúa cụ thể như sau:

    + Vụ Đông Xuân 2017-2018: là vụ sản xuất chính trong năm của nông dân, chính thức xuống giống 68.813 ha, đạt 100,2% kế hoạch của vụ, giảm 3,9% so cùng kỳ, chủ yếu giảm ở huyện Chợ Gạo 2.023 ha, thị xã Cai Lậy 287 ha, huyện Cái Bè 247 ha, huyện Cai Lậy 335 ha… do chuyển trồng cây lâu năm như thanh long, sầu riêng…, năng suất thu hoạch bình quân đạt 74,6 tạ/ha, sản lượng 513.212 tấn, tăng 9,1% do năng suất bình quân tăng 13,5% so cùng kỳ. Giá bán cũng cao hơn nhiều so với mọi năm, nông dân không chỉ được mùa trúng giá mà thương lái còn tìm đến tận ruộng lúa chờ mua. Theo đó, giá lúa OM 4900 tươi tại ruộng khoảng 5.800-6.000 đồng/kg, OM 5451 giá 5.500-5.600 đồng/kg, Nàng hoa 9 khoảng 6.200-6.300 đồng/kg, VD 20 khoảng 7.400-7.500 đồng/kg...

    + Vụ Hè Thu (gồm Xuân Hè và Hè Thu): xuống giống 104.363 ha, đạt 99,8% kế hoạch của vụ, diện tích Xuân Hè 37.616 ha xuống giống tập trung ở các huyện phía tây: Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước và thị xã Cai Lậy; các huyện phía đông tạm ngưng gieo sạ do điều kiện thời gian ngắn chuyển sang vụ Hè Thu nên vùng nào nằm trong dự án ngọt hóa thì trồng màu, vùng nào ngoài dự án thì cày ải phơi đất chờ nguồn nước đảm bảo mới xuống giống vụ Hè Thu với diện tích 66.747 ha.

    + Vụ Thu Đông: ước tính diện tích xuống giống khoảng 28.618 ha đạt 103,2 % kế hoạch; giảm 4,7% so cùng kỳ do chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Vụ lúa này gieo trồng chủ yếu ở các huyện hạ lưu sông Tiền không bị ảnh hưởng lũ như: Chợ Gạo, Gò Công Tây, Thị xã Gò Công, Gò Công Đông… đây là vùng trọng điểm của tỉnh trồng lúa thơm, đặc sản, các giống lúa chất lượng cao đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.

    - Cây ngô: 9 tháng trồng 4.210 ha, đạt 93,6% kế hoạch, tăng 4,7% so cùng kỳ, thu hoạch 3.570 ha, năng suất bình quân 36 tạ/ha với sản lượng 12.853 tấn.

    - Cây rau đậu các loại: toàn tỉnh gieo trồng 55.549 ha, đạt 98,6% kế hoạch, thu hoạch 45.229 ha, năng suất bình quân 192,1 tạ/ha, sản lượng thu hoạch 868.844 tấn; so cùng kỳ diện tích gieo trồng tăng 4,4%, năng suất thu hoạch bình quân tăng 7,4% và sản lượng tăng 10,1%; trong đó: rau các loại 55.391 ha, thu hoạch 45.117 ha, năng suất bình quân 192,5 tạ/ha với sản lượng 868.506 tấn.

    - Cây lâu năm và cây ăn quả: có 94.517 ha, đạt 102,4% kế hoạch, tăng 1,3% so cùng kỳ; trong đó cây ăn quả 75.772 ha, tăng 1,1% so cùng kỳ, chủ yếu tăng ở thanh long 1.022 ha, sầu riêng 1.018 ha, mít 587 ha... Sản lượng cây lâu năm và cây ăn quả 9 tháng ước tính thu hoạch 1,3 triệu tấn, đạt 84,6% kế hoạch, tăng 1% so cùng kỳ do việc mở rộng diện tích gieo trồng trong những năm trước nay đã tới mùa cho quả cộng với việc xử lý cho quả trái vụ là 2 yếu tố chính làm tăng sản lượng.

    b. Chăn nuôi:

    Thời điểm 01/9/2018 ước tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh như sau: đàn trâu 253 con, đàn bò 112 ngàn, đàn lợn 598 ngàn con, đàn gia cầm 13,2 triệu con; so với cùng kỳ: đàn trâu giảm 8%, đàn bò tăng 0,8%, đàn lợn giảm 6,9%, đàn gia cầm tăng 4,8%. Trong quý I, giá lợn hơi có tăng nhẹ, giá bán ra trung bình 30 ngàn đồng/kg. Từ giữa tháng 4/2018 thương lái thu mua khoảng 37-40 ngàn đồng/kg, với giá này, người chăn nuôi đã có lãi. Từ tháng 5, giá lợn liên tục tăng và chạm mốc 50 ngàn đồng/kg, với mức giá bán hiện nay, người chăn nuôi hoàn toàn có lãi, thậm chí lãi khá cao. Hiện nay, tại Tiền Giang giá lợn hơi được thương lái thu mua từ 4,8 - 5,2 triệu đồng/tạ tùy phẩm chất và địa bàn thu mua nhưng người dân chưa mạnh dạn nuôi trở lại do cẩn trọng với giá lợn hơi thấp kéo dài cả năm 2017. Mặt khác, sau đợt khủng hoảng về giá vừa qua đã đẩy hàng loạt hộ chăn nuôi nhỏ lẻ vào cảnh khó khăn, đến nay còn lâm nợ nên chưa có điều kiện để phát triển đàn trở lại.

    * Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi đến 10/9/2018:

    - Cây lúa: nhìn chung tình hình dịch hại xuất hiện ở mức thấp hơn cùng kỳ 2017; có 4.705 ha lúa có rầy nâu, thấp hơn 5.945 ha so với cùng kỳ; 5.762 ha lúa có bệnh cháy lá, thấp hơn 2.333 ha so với năm 2017; 2.850 ha lúa có sâu cuốn lá nhỏ, thấp hơn 317 ha so với cùng kỳ và một số sâu, bệnh khác xuất hiện với tỷ lệ, mật số thấp. Bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa đã xuất hiện trong vụ Hè Thu với diện tích 210 ha, tỷ lệ khoảng 5%, chủ yếu tại huyện Tân Phước. Số diện tích này đã thu hoạch và không bị ảnh hưởng năng suất.

    - Gia súc: có 16 trường hợp bệnh lở mồm long móng trên lợn, bò (kết quả xét nghiệm dương tính với vi-rút lở mồm long móng týp O) và tai xanh trên lợn ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Đông, Gò Công Tây và TP Mỹ Tho. Tổng đàn nuôi 1.115 con, số bệnh bị bệnh 242 con, tiêu hủy 213 con với trọng lượng 9.248 kg. Ngoài ra chủ hộ nuôi còn tự tiêu hủy 15 con heo bị tai xanh trước khi cơ quan chuyên môn xác minh. Có 2 trường hợp đã được hỗ trợ ở Gò Công Tây với số tiền 89,2 triệu đồng/11 bò.

    - Gia cầm: có 2 trường hợp gà bệnh cúm gia cầm ở xã Bình Nghị, huyện Gò Công Đông và xã Mỹ Thành Nam, huyện Cai Lậy; 1 trường hợp vịt bệnh dịch tả ghép với bệnh nấm phổi ở xã Yên Luông, huyện Gò Công Tây. Tổng đàn 13.069 con, bệnh 3.280 con, chết 300 con, tiêu hủy 1.910 con.

    c. Lâm nghiệp:

    Ước đến hết tháng 9 trồng cây phân tán được 767 ngàn cây các loại, giảm 65,8% so cùng kỳ. Sản lượng khai thác gỗ đạt 35.709 m3, giảm 8,2% so cùng kỳ và khai thác được 147.685 ste củi các loại, giảm 3,7% so cùng kỳ. Toàn tỉnh hiện có 2.170 ha đất rừng (không gồm diện tích rừng thuộc đất an ninh quốc phòng); trong đó đất rừng phòng hộ 1.310 ha. Giao khoán bảo vệ rừng 1.048 ha cho 148 cá nhân với kinh phí thực hiện 364 triệu đồng. Nhờ chủ động thực hiện tốt các biện pháp phòng, chống cháy rừng trong mùa khô nên 9 tháng qua trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng. Các địa phương luôn chủ động ứng phó kịp thời khi có tình huống xấu xảy ra theo phương châm 4 tại chỗ.

    d. Thủy, hải sản:

    Ước tính 9 tháng thả nuôi được 16.075 ha thủy sản các loại, đạt 101,8% kế hoạch, giảm 1,8% so cùng kỳ. Thủy sản nước ngọt nuôi 6.712 ha, đạt 106,2% kế hoạch, giảm 2,1% so cùng kỳ; nguyên nhân là do các hộ nuôi nhỏ lẻ mang tính chất cải thiện đời sống gia đình bỏ trống ao nuôi, mặt khác diện tích nuôi trong ao của vườn cây ăn quả bị ảnh hưởng thuốc trừ sâu nên không tiến hành thả nuôi. Thủy sản nước mặn, lợ được 9.363 ha, đạt 98,9% kế hoạch, giảm 1,5% so cùng kỳ; trong đó: diện tích tôm 6.743 ha, giảm 2,1% so cùng kỳ.

    Về tình hình dịch bệnh: có 66,3 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh bị bệnh, chủ yếu ở 2 huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông, chiếm 3% diện tích thả nuôi; đã sử dụng 2.445 kg TCCA/12,14 ha để xử lý môi trường nuôi. Trên nghêu: xảy ra 3 đợt nghêu chết rãi rác (tháng 4, 7 và 8/2018) với tổng diện tích 224 ha, tập trung khu vực cồn Vạn Liễu cách bờ 1,5 km; nghêu chết tỷ lệ từ 1-7%, trong đó có 25 ha có tỷ lệ chết từ 10-15%, kích cỡ nghêu khoảng 60-70 con/kg (sân nghêu thịt), 80-300 con/kg (sân nghêu trung). Nguyên nhân do gió chướng thổi mạnh, sóng to nên nghêu vùi sâu không lọc được thức ăn và do lớp bùn tích tụ nhiều trên mặt sân, nghêu không ăn được trong nhiều ngày...

    Sản lượng thu hoạch 200.838 tấn, đạt 77,8% kế hoạch, tăng 4,7% so cùng kỳ; trong đó: sản lượng từ nuôi 109.966 tấn, đạt 70,5% kế hoạch, tăng 3% so cùng kỳ, sản lượng khai thác 90.872 tấn, đạt 88,8% kế hoạch, tăng 6,9% so cùng kỳ. Sản lượng tăng cùng kỳ chủ yếu là do sản lượng nuôi tôm tăng, nhất là nuôi tôm thẻ nước lợ và thời tiết thuận lợi; ngư trường gần bờ xuất nhiều loại cá nên ngư dân vừa trúng mùa vừa được giá.

    7. Sản xuất công nghiệp:

    Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng tính theo giá so sánh 2010 được 75.559,8 tỷ đồng, đạt 69,6% kế hoạch, tăng 14,2% so cùng kỳ. Phân theo ngành kinh tế: ngành công nghiệp chế biến chế tạo thực hiện 74.960,4 tỷ đồng, tăng 14,3%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thực hiện 343,4 tỷ đồng, tăng 7,6%, ngành công nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải thực hiện 255 tỷ đồng, tăng 6,4% và ngành công nghiệp khai khoáng đạt 1 tỷ đồng, giảm 46% so cùng kỳ.

    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 9/2018 giảm 3,8% so với tháng trước (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 3,9%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 1,8%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,3%) và tăng 12,3% so cùng kỳ (ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,4%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,1%). Tính chung 9 tháng đầu năm chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,3% so cùng kỳ, bao gồm: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,5%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,7%. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I/2018 tăng 12,4%, quý II tăng 12,2%, quý III tăng 12,2% so cùng kỳ tương ứng.

     * Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo:

    - Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 so với tháng trước giảm 1,6% và tăng 2,3% so cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 9 năm 2018 tăng 9,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,6%, trong đó chế biến bảo quản thủy sản tăng 20,3%; sản xuất đồ uống tăng 28%; dệt tăng 26,1%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so cùng kỳ là: sản xuất da giảm 2,6%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 0,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 0,4%; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 34,8%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu giảm 19,6%...

    - Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 9/2018 so với tháng trước tăng 16,1% và so với cùng kỳ tăng 59,5%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng kỳ là: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 104,9%; sản xuất đồ uống bằng 4,8 lần; dệt tăng 22,1%; sản xuất trang phục tăng 10%; sản xuất kim loại tăng 94,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 94,3%... Bên cạnh đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ là: sản xuất da giảm 13%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu giảm 3,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 0,9%; công nghiệp chế biến chế tạo khác giảm 7,3%...

    * Tình hình thu hút đầu tư và phát triển các khu - cụm công nghiệp:

    Khu công nghiệp: đến nay tỉnh đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương quy hoạch 7 khu công nghiệp với tổng diện tích 2.083,5 ha; trong đó có 4 khu công nghiệp đã được thành lập và đi vào hoạt động. Từ đầu năm đến nay, đã thu hút 7 dự án đầu tư (trong đó có 6 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký dự án 72 triệu USD và 10 tỷ đồng, đạt 70% kế hoạch năm 2018, diện tích cho thuê đất 14,2 ha; ngoài ra, Ban Quản lý các khu công nghiệp điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư 20 dự án, trong đó có 7 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư với tổng số vốn đầu tư tăng thêm là 23,7 triệu USD. Tổng vốn đầu tư đăng ký mới và điều chỉnh tăng đạt 95,6 triệu USD và 10 tỷ đồng, tăng 35,1% so cùng kỳ (53,6 triệu USD); diện tích đất cho thuê 12,9 ha. Tổng số dự án tại các khu công nghiệp là 98 dự án (trong đó có 70 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài) với tổng vốn đầu tư đăng ký 1.738 triệu USD và 4.086 tỷ đồng, diện tích đất đã cho thuê 478,9/765,2 ha, đạt 62,6% diện tích đất của 4 khu công nghiệp đang hoạt động.

    Cụm công nghiệp: trên địa bàn tỉnh có 27 cụm công nghiệp được quy hoạch; trong đó có 4 cụm công nghiệp đang hoạt động. Trong 9 tháng đầu năm không thu hút dự án đầu tư mới. Tổng số dự án đầu tư tại các cụm công nghiệp hiện nay là 79 dự án (trong đó: có 7 dự án đầu tư nước ngoài) với tổng vốn đầu tư 4.402 tỷ đồng, diện tích thuê đất là 78,6 ha, tỷ lệ lắp đầy đạt 96,9%.

    8. Thương mại, dịch vụ:

    a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội:

    Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội 9 tháng thực hiện 42.161,9 tỷ đồng, đạt 71,5% kế hoạch, tăng 9,1% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước 3.646,8 tỷ đồng, tăng 21%; kinh tế ngoài nhà nước 38.185,7 tỷ đồng, tăng 7,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 329,4 tỷ đồng, tăng 45,1%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp 33.408,7 tỷ đồng, tăng 7,8%; lưu trú 91,4 tỷ đồng, tăng 20,9%; ăn uống 4.394,6 tỷ đồng, tăng 13,6%; du lịch lữ hành đạt 78,4 tỷ đồng, tăng 12,2%; dịch vụ 4.188,8 tỷ đồng, tăng 14,5% so cùng kỳ.

    Nhằm đảm bảo bình ổn thị trường giá cả, không để xảy ra tình trạng tăng đột biến về giá cả hàng hóa, dịch vụ trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018, Ủy Ban nhân dân tỉnh Tiền Giang đã ban hành Kế hoạch số 340/KH-UBND ngày 04/12/2017 về dự trữ, cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018; trong đó có 6 doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký tham gia, tổng trị giá hàng hóa dự trữ, cung ứng của các doanh nghiệp trên 341 tỷ đồng, nên giá cả hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018 khá ổn định. Các dịp Tết Nguyên đán, Giỗ tổ mùng 10/3 và Lễ 30/4, 1/5, Quốc khánh 2/9 sức mua của người dân tăng hơn bình thường ở các nhóm thiết yếu.

    Một số hoạt động thương mại và xúc tiến thương mại nổi bật từ đầu năm đến nay như: Sở Công thương có thông báo doanh nghiệp, tổ chức tham gia các hội chợ triển lãm để quảng bá hình ảnh, giới thiệu sản phẩm như: Triển lãm Vietnam Foodexpo 2018 diễn ra từ ngày 14-17/11/2018 tại thành phố Hồ Chí Minh, có 4 doanh nghiệp đăng ký tham gia; hội chợ Nông nghiệp - Công nghiệp - Thương mại - Festival vật tư nông nghiệp lần thứ I tại tỉnh Vĩnh Long; tham gia các đoàn: Giao dịch xúc tiến thương mại tại Belarus và Nga, Đoàn giao dịch xúc tiến thương mại tại Hoa Kỳ, chương trình xúc tiến thương mại Hoa Kỳ 2018, diễn đàn Xúc tiến xuất khẩu năm 2018...

    Chào mừng Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2018, Trung tâm xúc tiến Đầu tư - Thương mại - Du lịch đã tổ chức triển lãm thành tựu phát triển doanh nghiệp tỉnh Tiền Giang tại đường 30/4, phường 1, TP. Mỹ Tho, diễn ra từ ngày 07 đến 10/8/2018 với 22 gian hàng triển lãm của cấp huyện và 122 gian hàng của 53 doanh nghiệp trong tỉnh và câu lạc bộ doanh nhân Tiền Giang tại thành phố Hồ Chí Minh, triển lãm nhằm giới thiệu về sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là sự phát triển của doanh nghiệp. Triển lãm được trưng bày theo 4 lĩnh vực như sau: nông nghiệp; công nghiệp; khởi nghiệp; đầu tư, thương mại, du lịch. Giới thiệu các dự án mời gọi đầu tư, các ý tưởng, các sản phẩm, mô hình và các dự án khởi nghiệp của thanh niên tỉnh Tiền Giang trong quá trình khởi nghiệp và lập nghiệp. Bên cạnh đó, triển lãm còn giới thiệu các sản phẩm chủ lực, đặc sản của tỉnh để phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu.

    b. Xuất - Nhập khẩu:

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 9 tháng được 1.851,4 triệu USD, đạt 69,9% kế hoạch, tăng 0,8% so cùng kỳ, gồm: kinh tế nhà nước thực hiện 87,4 triệu USD, tăng 76,3%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 433,4 triệu USD, giảm 16,3%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 1.330,6 triệu USD, tăng 4,8% so cùng kỳ. Kim ngạch xuất khẩu quý I đạt 561,6 triệu USD, quý II đạt 629 triệu USD, quý II đạt 660,8 triệu USD; kim ngạch xuất khẩu qua 3 quý tăng chủ yếu ở mặt hàng may mặc (kim ngạch quý I đạt 98,6 triệu USD, quý II đạt 101,7 triệu USD, quý III đạt 149 triệu USD), các mặt hàng khác có kim ngạch xuất khẩu biến động không đáng kể. Tình hình xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của tỉnh như sau:

    - Thủy sản: ước tính 9 tháng xuất 81.505 tấn, giảm 20,3% so cùng kỳ, trị giá đạt 221,7 triệu USD, giảm 26,7% so cùng kỳ. Thị trường cá tra nguyên liệu trong 6 tháng đầu năm liên tục biến động khi nguồn cung khan hiếm dẫn đến nguồn cá nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu sẽ hạn chế. Trong quý I, giá cá tra nguyên liệu dao động tăng dần, giá ở mức 28.000 - 30.000 đ/kg, có nơi giá được đẩy lên đến 31.000 - 32.500 đ/kg. Đến cuối tháng 4/2018, giá cá tra nguyên liệu loại 1 đã tăng lên mức 33.500 đồng/kg, đây là mức giá tăng cao từ trước đến nay. Sang tháng 5 giá cá tra duy trì ở mức 32.000 - 33.000 đồng/kg, sang tháng 6 cá ổn định mức giá 29.500 - 30.000 đồng/kg.

    Tháng 7 giá cá tra xu hướng giảm khoảng 2.000 đồng/kg, giá cá tra dao động từ 28.000 đến 30.000 đồng/kg so tháng trước. Các doanh nghiệp đưa nhiều nguyên nhân giải thích giá cá tra giảm do nguồn cung thiếu hụt nên giá cá tra tăng đột biến, đến khi các doanh nghiệp nhập khẩu đã nhập đủ hàng nên giá giảm. Khi giá cá tra lên đến 32.000 đồng/kg, các nhà nhập khẩu Trung Quốc tạm ngưng mua để tiêu thụ lượng cá tra tồn kho đã nhập trước đó; điều này đã làm giá cá tra trong nước giảm vì Trung Quốc là thị trường tiêu thụ mặt hàng này lớn nhất của Việt Nam.

    - Gạo: ước tính 9 tháng xuất 226.192 tấn, tăng 6,6%, về trị giá đạt 120,6 triệu USD, tăng 23,5% so cùng kỳ. Sau khi tăng mạnh từ đầu năm đến tháng 5 do 2 thị trường tiêu thụ lớn là Indonesia và Philippines đồng loạt thông báo kế hoạch nhập khẩu và Bangladesh tiếp tục duy trì tiến độ nhập khẩu, giá gạo xuất khẩu cũng có dấu hiệu tăng đáng kể. Ngoài ra, chính phủ còn mở thêm các hợp đồng thương mại cho các doanh nghiệp Việt Nam nên việc xuất khẩu gạo đang rất thuận lợi. Sang tháng 6,7,8 giá xuất có xu hướng giảm, nguyên nhân do giá gạo xuất khẩu của các nước xuất khẩu lớn đều giảm so với tháng trước, nhu cầu nhập khẩu từ các thị trường chính đều giảm.

    Theo số liệu công ty lương thực tỉnh trong tháng 9 giá lúa khô bắt đầu tăng 100 đồng/kg so tháng trước. Gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm giá xuất 399 đến 403 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn, gạo 15% tấm giá xuất 390 đến 394 USD/tấn, tăng 10 USD/tấn, gạo 25% tấm giá xuất 381 đến 386 USD/tấn, tăng 11 USD/tấn.

    Hiện nay doanh nghiệp xuất khẩu gạo của tỉnh tập trung vào thị trường Trung Quốc, trong 9 tháng đầu năm lượng gạo xuất sang thị trường trung Quốc đạt 163.038,4 tấn (chiếm 72% trong tổng lượng gạo xuất 9 tháng đầu năm) tương đương 86,8 triệu USD. Tuy nhiên, Trung Quốc đang tạo ra 2 rào cản rất lớn cho ngành xuất khẩu gạo: chính sách nhập khẩu và yếu tố kỹ thuật. Đối với yếu tố kỹ thuật đó là vấn đề về chất lượng sản phẩm, hàng hoá của Trung Quốc xuất bán vào Việt Nam thì chất lượng rất yếu kém nhưng khi hàng hóa của Việt Nam bán vào Trung Quốc họ luôn đòi hỏi chất lượng rất cao.

    - May mặc: ước tính 9 tháng xuất 51.372 ngàn sản phẩm, giảm 15,6% so cùng kỳ, về giá trị đạt 349,3 triệu USD, tăng 1,3% so cùng kỳ do giá xuất bình quân năm 2018 là 7,2 USD/sản phẩm, tăng 15,6% so năm 2017.

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa 9 tháng được 1.110 triệu USD, đạt 96,5% kế hoạch, tăng 31,4% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế ngoài nhà nước đạt 92,4 triệu USD, giảm 16,6%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.017,6 triệu USD, tăng 38,7%. Trị giá nhập khẩu phân theo ngành sản xuất kinh doanh chính gồm 2 ngành: công nghiệp chế biến chế tạo và thương nghiệp bán buôn bán lẻ. 9 tháng năm 2018 ngành công nghiệp chế biến chế tạo nhập khẩu đạt 1.105,2 triệu USD, tăng 31,8% so cùng kỳ, trong đó nhập khẩu cho sản xuất chế biến thực phẩm 64,2 triệu USD, may mặc 272,2 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu quý I đạt 367,8 triệu USD, quý II đạt 381,6 triệu USD, quý III đạt 360,6 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu quý III giảm so quý II chủ yếu ở mặt hàng vải các loại (quý II nhập 97,8 triệu USD, quý II nhập 34 triệu USD), các mặt hàng khác giảm không đáng kể do nhu cầu sản xuất và giá thị trường mà các đơn vị đã nhập đủ lượng hàng cần thiết cho sản xuất trước đó.

    c. Vận tải:

    Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải 9 tháng ước thực hiện 1.702 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ; trong đó: vận tải hành khách thực hiện 521 tỷ đồng, tăng 6,7% so cùng kỳ; vận tải hàng hóa thực hiện 1.036 tỷ đồng, tăng 10,9% so cùng kỳ. Vận tải đường bộ thực hiện 950,6 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ; vận tải đường thủy nội địa thực hiện 606,2 tỷ đồng, tăng 6,5%; kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải 145,2 tỷ đồng, tăng 55,4%. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải quý I: 561 tỷ đồng, tăng 10,6%; quý II: 570 tỷ đồng, tăng 13,9%, quý III: 571 tỷ đồng, tăng 12,3% so cùng kỳ.

    Vận chuyển hành khách 9 tháng ước đạt 23.061 ngàn hành khách, tăng 2,7% so cùng kỳ và luân chuyển được 912.972 ngàn hành khách.km, tăng 13,1% so cùng kỳ; trong đó: vận chuyển đường bộ 15.144 ngàn hành khách, tăng 0,7% và luân chuyển 898.574 ngàn hành khách.km, tăng 13% so cùng kỳ; vận chuyển đường thủy nội địa 7.917 ngàn hành khách, tăng 6,8% và luân chuyển 14.398 ngàn hành khách.km, tăng 14,9% so cùng kỳ. Vận chuyển hành khách quý I: 7.902 ngàn hành khách, giảm 1,2%; quý II: 7.605 ngàn hành khách, tăng 5,3%; quý III: 7.554 ngàn hành khách, tăng 4,5% so cùng kỳ.

    Vận tải hàng hóa 9 tháng ước đạt 12.209 ngàn tấn, tăng 8,5% và luân chuyển được 1.262.666 ngàn tấn.km, tăng 18,6% so cùng kỳ; trong đó: vận tải đường bộ thực hiện 3.774 ngàn tấn, tăng 9,6% và luân chuyển được 302.336 ngàn tấn.km, tăng 20,5% so cùng kỳ; vận tải đường thủy nội địa thực hiện 8.435 ngàn tấn, tăng 8% và luân chuyển được 960.330 ngàn tấn.km, tăng 18,1%. Vận tải hàng hóa quý I: 3.910 ngàn tấn, tăng 6%; quý II: 4.083 ngàn tấn, tăng 8,7%; quý III: 4.216 ngàn tấn, tăng 10,8% so cùng kỳ.

    d. Du lịch:

    Số khách tham quan du lịch đến địa bàn tỉnh trong 9 tháng đầu năm 2018 là 1.433 ngàn lượt, đạt 72,6% kế hoạch, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó khách quốc tế 486 ngàn lượt, đạt 62,1% kế hoạch, tăng 14,3% so cùng kỳ. Doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành và dịch vụ tiêu dùng đạt 8.753,2 tỷ đồng, tăng 14,1% so cùng kỳ; trong đó: dịch vụ ăn uống 4.394,6 tỷ đồng, chiếm 50,2%.

    Ngày 28/01/2018, Công ty TNHH Công nghệ xanh DP (Greenlines DP) hoạt động vận tải hành khách bằng tàu thủy cao tốc Bến Tre - Mỹ Tho - Vũng Tàu. Ở Bến Tre, bến được đặt tại bến phà Rạch Miễu cũ (xã Tân Thạch, huyện Châu Thành); Ở Tiền Giang, bến được đặt tại Bến tàu du lịch Mỹ Tho (đường 30-4); Phía Thành phố Vũng Tàu bến được đặt ở Khu du lịch cáp treo Hồ Mây. Với việc khai trương hai tuyến tàu cao tốc trên không chỉ tạo điều kiện để phát triển du lịch mà còn tạo ra sự gắn kết giao thông vận tải cũng như thúc đẩy việc phát triển kinh tế của vùng Đông Nam bộ và Tây Nam bộ.

    Hoạt động xúc tiến du lịch: Trung tâm xúc tiến Đầu tư - Thương mại - Du lịch tỉnh tham gia Hội chợ du lịch quốc tế Việt Nam - VITM Hanoi 2018 từ ngày 28/3 đến ngày 02/4/2018 có sự tham gia của 112 cơ quan quản lý, xúc tiến du lịch từ hơn 43 tỉnh, thành phố trên cả nước, 21 quốc gia và vùng lãnh thổ và 675 doanh nghiệp ở các lĩnh vực tham gia với các chương trình tham quan trong và ngoài nước, các chương trình khuyến mại, giảm giá, kích cầu du lịch. Gian hàng của Tiền Giang được hơn 10.000 lượt khách đến làm việc, tham quan gian hàng, phát tặng hơn 10.000 ấn phẩm, tờ rơi, brochure. Khách rất quan tâm đến các tour du lịch sinh thái của tỉnh và chương trình tour liên kết chung của tỉnh...

    e. Bưu chính viễn thông:

    Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông 9 tháng đạt 1.792 tỷ đồng, tăng 17,8% so cùng kỳ; trong đó: doanh thu bưu chính đạt 85,3 tỷ đồng, tăng 11,1%, viễn thông đạt 1.706,7 tỷ đồng, tăng 18,2% so cùng kỳ. Toàn tỉnh có 168 điểm phục vụ bưu chính, trong đó có 41 điểm bưu điện, 109 điểm Bưu điện Văn hóa xã (đang hoạt động là 100, tạm ngưng là 9) và 18 thùng thư công cộng; có 15 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, chuyển phát gồm Bưu điện tỉnh Tiền Giang, Bưu chính Viettel và 13 Chi nhánh công ty chuyển phát hoạt động trên địa bàn tỉnh.

    Số thuê bao điện thoại trên mạng đến cuối tháng 9 là 116.656 thuê bao, mật độ điện thoại bình quân đạt 6,7 thuê bao/100 dân. Số thuê bao Internet trên mạng đến cuối tháng 9 là 186.743 thuê bao, mật độ Internet bình quân đạt 10,7 thuê bao/100 dân.

    B. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động, giải quyết việc làm:

    Các hoạt động hỗ trợ tư vấn giới thiệu việc làm và đào tạo nghề tiếp tục được củng cố và tăng cường. Từ đầu năm đến nay đã giới thiệu việc làm cho 2.639 lượt lao động đạt 105,6% kế hoạch năm, trong đó: nữ 1.402 lượt lao động (chiếm 53,1%); có 1.372 lao động có được việc làm ổn định; có 151 lao động xuất cảnh chính thức; có 11.340 người đăng ký bảo hiểm thất nghiệp; có 11.031 người được hưởng trợ cấp thất nghiệp với tổng số tiền chi trả tương đương 131.771 triệu đồng. Tổ chức 14 phiên giao dịch việc làm có 48 doanh nghiệp tham gia phỏng vấn tuyển dụng trực tiếp với nhu cầu tuyển dụng 8.358 lao động, thu hút trên 976 lượt lao động tham gia trực tiếp và hàng trăm lượt tham gia gián tiếp qua website Trung tâm dịch vụ việc làm. Nhìn chung, từ đầu năm đến nay, công tác tư vấn và giới thiệu việc làm, tổ chức các phiên giao dịch việc làm được thực hiện tốt, giúp cho nhiều doanh nghiệp và người lao động nắm bắt thông tin để kịp thời đăng ký tuyển dụng và tìm việc.

    2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:

    Tình hình sản xuất nông nghiệp cũng còn không ít khó khăn như giá sản phẩm một số loại cây trồng, vật nuôi không ổn định, có lúc xuống thấp đã ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của người chăn nuôi; tình trạng xói lở, xâm thực khu vực bờ biển, bờ sông, kênh rạch đang diễn biến khá nghiêm trọng; tác động của biến đổi khí hậu, mưa lớn kèm theo gió mạnh và lốc xoáy đã gây thiệt hại về nhà cửa ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân; công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm còn nhiều bất cập, chưa được kiểm soát tốt… gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh và đời sống của nhân dân. Được sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh cùng với đoàn thể các cấp đã kịp thời có những chính sách hỗ trợ giúp người dân phần nào khôi phục sản xuất, ổn định cuộc sống, yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh.

    Các hoạt động an sinh xã hội, chăm lo tết cho đối tượng chính sách, hộ nghèo được triển khai thực hiện tốt, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân. Tổ chức thăm và tặng quà Tết Nguyên đán 2018 cho 20.710 hộ nghèo với tổng số tiền là 6,4 tỷ đồng, trong đó quà Chủ tịch nước là 30 người với số tiền 30 triệu đồng, ngân sách tỉnh 9.840 người với số tiền 2,9 tỷ đồng, ngân sách huyện 9.840 người với số tiền 2,9 tỷ đồng, từ nguồn khác 1.000 người số tiền 500 triệu đồng; tặng 110.302 phần quà với tổng giá trị 19,8 tỷ đồng cho người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018.

    Thực hiện tốt các hoạt động đền ơn, đáp nghĩa, các chính sách đối với gia đình người có công với cách mạng:

    -  Vận động đóng góp quỹ đền ơn đáp nghĩa được 10,6 tỷ đồng, đạt 106% kế hoạch năm; xây mới 134 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 5.360 triệu đồng, đạt 103,1% kế hoạch; sửa chữa 71 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1.420 triệu đồng đạt 100,4% kế hoạch từ nguồn vận động.

    - Công tác điều dưỡng người có công: Đưa 4 đợt với 400 người có công đi điều dưỡng tập trung cho các huyện, thành, thị tại Trung tâm điều dưỡng Lâm Đồng, Khánh Hòa, Kiên Giang và Đoàn An dưỡng điều dưỡng 198 Đà Lạt; tổ chức đưa 106 người có công đi điều dưỡng tập trung tại Trung tâm điều dưỡng Miền Trung trong tháng 4/2018; thực hiện chế độ điều dưỡng tại gia đình đối với 6.839 người có công với cách mạng với số tiền 7,6 tỷ đồng.

    - Tổ chức 2 đợt đưa 60 người có công đi viếng Lăng Bác Hồ, tham quan thủ đô Hà Nội vào tháng 4 và tháng 6 năm 2018; tổ chức đưa 35 người có công đi Phú Quốc, thời gian từ ngày 7/5 đến 10/5/2018; tổ chức Lễ trao Huân chương độc lập Nhất, Nhì, Ba cho 250 gia đình có nhiều liệt sĩ.

    Công tác bảo trợ xã hội: Thăm và tặng quà Tết nguyên đán 2018 cho 4.733 người cao tuổi với tổng kinh phí 1,6 tỷ đồng (trong đó tặng quà Chủ tịch nước là 1.711 người số tiền là 796 triệu đồng, quà từ nguồn xã hội hóa 3.022 người với số tiền là 818 triệu đồng); tặng quà cho 970 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền là 105,4 triệu đồng từ ngân sách tỉnh. Tổng số đối tượng đang quản lý tại Trung tâm Công tác Xã hội là 384 đối tượng, trong đó có 03 người có công, 263 người khuyết tật nặng, 68 người khuyết tật đặc biệt nặng, 32 người già neo đơn, 16 trẻ em bình thường.

    Công tác giảm nghèo: Đầu năm toàn tỉnh có 19.680 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,19% tổng số hộ toàn tỉnh (469.289 hộ); tổng số hộ thuộc diện cận nghèo: 18.314 hộ, chiếm tỷ lệ 3,91%. Kế hoạch của tỉnh là phấn đấu đến cuối năm 2018 giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới được quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính Phủ về ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 của tỉnh xuống còn 3,69% so với dân số toàn tỉnh và hiện đang chuẩn bị tổ chức điều tra hộ nghèo 2018.

    Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em luôn được chú trọng, tổ chức thực hiện “Tháng hành động vì trẻ em” từ ngày 1/6 - 30/6/2018, đồng thời tổ chức Lễ phát động “Tháng hành động vì trẻ em” năm 2018... Quỹ Bảo trợ trẻ em vận động trên 2,1 tỷ đồng, hỗ trợ cho khoảng 2.456 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn trong toàn tỉnh, với tổng số tiền và hàng hóa đã chi trên 1,6 tỷ đồng thông qua các chương trình Tiếp sức đến trường, lễ phát động tháng hành động vì trẻ em; xây dựng 10 căn nhà tình nghĩa cho 10 hộ gia đình có trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, tổng kinh phí 500 triệu đồng do Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam tài trợ; thực hiện 6 kỳ tiếp sức đến trường tặng xe đạp, cặp và tập cho các em học sinh.

    Từ đầu năm đến cuối tháng 8 toàn tỉnh đã cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo là 59.075 thẻ và 60.149 thẻ dành cho người cận nghèo, trẻ em dưới từ 0- 6 tuổi là 156.424 thẻ. Đồng thời, hỗ trợ cho hộ bãi ngang ở các huyện (Thị xã Gò Công, Gò Công Đông, Tân Phú Đông) có điều kiện khó khăn là: 88.784 thẻ; kiểm tra, phê duyệt việc mua bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng và thân nhân người có công theo Nghị định số 31/2013/NĐ-CP đến thời điểm cuối tháng 8 là 808 người.

    3. Giáo dục - Đào tạo:

    Trong 9 tháng, toàn ngành đã thực hiện tốt các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban nhân dân tỉnh về nhiệm vụ trọng tâm như: tổng kết năm học 2017-2018; khai giảng năm học 2018-2019; tổ chức tốt kỳ thi tuyển sinh lớp 10; kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2018. Kết quả như sau:

    Giáo dục mầm non: Công nhận 11 đơn vị, huyện, thành phố và thị xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi năm 2017; có 188 trường (56 trường mẫu giáo, 132 trường mầm non); nhà trẻ có 229 nhóm với 4.862 trẻ, tỷ lệ 12,4% so dân số 0-2 tuổi; mẫu giáo 1.534 lớp, với 56.708 học sinh, tỷ lệ 81,3% so dân số 3-5 tuổi, huy động 100% trẻ 5 tuổi ra lớp; kiểm tra công nhận Trường Mầm non Lê Thị Hồng Gấm (TP. Mỹ Tho) đạt chuẩn Quốc gia mức độ 2; các trường Mầm non đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1, gồm: Thành Công (Gò Công Tây), Tân Phú (Tân Phú Đông), Bình Minh (TP. Mỹ Tho), Ngũ Hiệp (huyện Cai Lậy) và 8/3 (thị xã Cai Lậy).

    Giáo dục phổ thông:

    - Bậc Tiểu học: có 225 trường tiểu học (trong đó có 1 trường chuyên biệt giáo dục trẻ khuyết tật); có 133.347 học sinh/4.151 lớp đạt tỷ lệ 100 % dân số từ 6 đến 10 tuổi, trong đó trẻ học đúng độ tuổi tỷ lệ 98,3%; tuyển mới 24.991 học sinh lớp 1, đạt tỷ lệ 100% so với dân số 6 tuổi; kiểm tra, thẩm định tái công nhận 6 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia sau 5 năm, trong đó 1 trường tiếp tục đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 và 5 trường tiếp tục đạt chuẩn quốc gia mức độ 1; kiểm tra công nhận mới 3 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2 và 3 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1.

    - Bậc Trung học: có 126 trường trung học cơ sở, 34 trường trung học phổ thông, 3 trường phổ thông có nhiều cấp học; trung học cơ sở 2.510 lớp, với 101.644 học sinh, tỷ lệ 98,38% so với dân số 11-14 tuổi; trung học phổ thông 1.025 lớp, với 41.571 học sinh, tỷ lệ 60,4% so với dân số 15-17 tuổi. Tỷ lệ huy động học sinh trung học phổ thông và tương đương (gồm học sinh trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề) so dân số 15-17 tuổi là 67,5%. Công nhận trường đạt chuẩn quốc gia, gồm: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu (TP. Mỹ Tho), Trường THCS Mỹ Đức Tây (huyện Cái Bè) và Trường THCS Phường 2 (thị xã Gò Công).

    Giáo dục thường xuyên - Giáo dục chuyên nghiệp: có 11/11 huyện, thị, thành phố tiếp tục đạt chuẩn phổ cập giáo dục và xóa mù chữ năm 2017; giáo dục thường xuyên có 2 trung tâm giáo dục thường xuyên (1 cấp tỉnh và 1 cấp huyện), có 1.517 học viên trung học phổ thông; giáo dục nghề nghiệp có 6 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên cấp huyện, 2 trường trung cấp nghề, 1 trường cao đẳng nghề, 5 trường trung cấp chuyên nghiệp, 1 trường đại học, 1 trường cao đẳng.

    Khảo thí và quản lý chất lượng giáo dục: Kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia năm 2018 Tiền Giang đạt 9 giải, trong đó có 2 giải nhì (Sinh học), 1 giải ba (Địa lý), 6 giải khuyến khích (Sinh học, Tin học, Toán, Tiếng Anh, Tiếng Pháp), xếp hạng 56/70 đơn vị dự thi toàn quốc; xếp hạng 6/13 các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long.

    Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh THPT năm 2018 với 1.007 thí sinh và 34/37 trường THPT đăng ký dự thi. Kết quả: đạt 326 giải/1.007 thí sinh đăng ký dự thi (32,37%), trong đó có 25 giải nhất, 73 giải nhì, 77 giải ba và 151 giải khuyến khích.

     Kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh THCS năm học 2017-2018 đạt 403 giải/916 thí sinh đăng ký dự thi (43,99%), trong đó có 32 giải nhất, 87 giải nhì, 105 giải ba và 179 giải khuyến khích.

    Xét công nhận tốt nghiệp THPT sau phúc khảo, kết quả có 13.628/13.774, tỷ lệ 98,94% (trước phúc khảo 98,87%); Tổ chức rà soát, đánh giá công tác tổ chức kỳ thi THPT quốc gia năm 2018; Có 24.720/24.756 (tỷ lệ 99,9%) học sinh được công nhận tốt nghiệp THCS năm 2018, trong đó 9.037 loại giỏi, 8.630 loại khá và 7.078 loại trung bình (hỏng 36 học sinh).

    Toàn tỉnh có 236/576 (tỷ lệ 41%) trường đạt chuẩn quốc gia. Trường mầm non 52 trường (trong đó có 5 trường đạt mức 2), tiểu học 137 trường (trong đó 5 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2), trung học cơ sở 41 trường, trung học phổ thông 6 trường.

    4. Chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

    Công tác khám chữa bệnh chăm sóc sức khỏe nhân dân từng bước được nâng lên về chất lượng, tinh thần thái độ phục vụ bệnh nhân ngày càng tốt hơn, tạo được lòng tin trong nhân dân. Công tác khám chữa bệnh vẫn thường xuyên quá tải cục bộ vẫn còn xảy ra tại một số đơn vị, chủ yếu quá tải khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ngoại trú tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Công suất sử dụng giường bệnh bình quân của các cơ sở điều trị đạt 102,3%, bệnh viện tuyến tỉnh đạt 124%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 99,2%, bệnh viện tuyến huyện đạt 64,1%..., đã khám chữa bệnh 4.261.716 lượt người tăng 1,1% so cùng kỳ, trong đó điều trị nội trú 172.973 lượt người giảm 2,9%.

    Tình hình phòng chống dịch bệnh được theo dõi, giám sát thường xuyên, so với cùng kỳ có 14 bệnh giảm, 7 bệnh tăng, các bệnh khác tương đương hoặc không xảy ra cas mắc, có 1 trường hợp tử vong do vi rút cúm. Những bệnh giảm như: bệnh thương hàn giảm 86,7%, bệnh tay-chân-miệng giảm 59,5%, bệnh do liên cầu lợn ở người giảm 57,1%, bệnh sốt xuất huyết Dengue giảm 52,8%, bệnh lao phổi giảm 32,9%,...; Những bệnh tăng: bệnh ho gà tăng 100%, bệnh viêm gan vi rút A tăng 50%, bệnh tiêu chảy tăng 21%, bệnh quai bị tăng 2,1%,... Đến nay số người nhiễm HIV là 5.032 người, số cas AIDS là 1.742 cas và tử vong do AIDS là 940 cas.

    Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được quan tâm thực hiện, nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về an toàn vệ sinh thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất và hưởng ứng “Tháng hành động vì an toàn thực phẩm” năm 2018; kiểm tra 9.942 lượt cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh thực phẩm, kết quả có 97,6% cơ sở đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm; xảy ra 1 vụ ngộ độc thực phẩm, có 12 người mắc, không có trường hợp tử vong.

    5. Văn hóa, thể thao:

    Các hoạt động văn hóa, văn nghệ với nhiều hình thức đa dạng, sôi nổi, phong phú về nội dung gắn liền với các ngày lễ, sự kiện quan trọng của đất nước như: tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Tiền Giang năm 2018; kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc; tổ chức ngày Quốc tế hạnh phúc 20 tháng 3 năm 2018 và Sơ kết 05 năm thực hiện Đề án “Tổ chức các hoạt động nhân ngày Quốc tế hạnh phúc 20 tháng 3 hằng năm” cấp tỉnh; tổ chức họp mặt kỷ niệm ngày gia đình Việt Nam 28/6; tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương, lễ giỗ Anh hùng dân tộc Trương Định và các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn 30/4, 1/5, 19/5, và 2/9 năm 2018… Công tác Thanh - kiểm tra văn hóa cũng được quan tâm, trong 9 tháng đã tổ chức 1 cuộc thanh tra chuyên ngành và 22 cuộc kiểm tra với 116 lượt kiểm tra, thực hiện 02 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền thu phạt là 11,5 triệu đồng.

    Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”: công nhận mới 2 ấp, khu phố văn hóa; 4 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, phường đạt chuẩn văn minh đô thị; 5 cơ sở thờ tự văn hóa và 5 con đường văn hóa. Toàn tỉnh có 994 ấp, khu phố văn hóa; 102 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới, phường đạt chuẩn văn minh đô thị; 442 cơ sở thờ tự văn hóa; 459 con đường văn hóa; 38 chợ văn hóa và 11 công viên văn hóa.

    Phong trào thể dục - thể thao quần chúng và thể thao thành tích cao tiếp tục được duy trì. Tổ chức thành công Đại hội Thể dục Thể thao cấp tỉnh lần thứ VIII với tổng số 20 môn, 209 nội dung. Thu hút 14 đoàn tham gia gồm 11 huyện, thành, thị, ngành Công An, ngành Quân đội và ngành Giáo dục và Đào tạo với 178 huấn luyện viên, 2.993 vận động viên. Kết quả chung cuộc, thành phố Mỹ Tho dẫn đầu với 55 HCV, 35 HCB, 43 HCĐ; Huyện Cái Bè thứ 2 với 32 HCV, 17 HCB, 33 HCĐ và Huyện Châu Thành xếp thứ 3 với 25 HCV, 17 HCB, 21 HCĐ. Thể thao thành tích cao tham dự 37 giải quốc tế, toàn quốc và khu vực, kết quả: 53 HCV, 66 HCB, 95 HCĐ.

    6. Tình hình trật tự an toàn xã hội:

    Theo báo cáo của ngành Công an: tình hình tội phạm về trật tự xã hội được kiềm chế, xảy ra 534 vụ, làm chết 21 người, bị thương 68 người, thiệt hại tài sản trị giá khoảng 22 tỷ đồng; xảy ra chủ yếu là tội phạm trộm cắp tài sản (xảy ra 382 vụ, chiếm 71,5% số vụ). Điều tra làm rõ 415 vụ (đạt tỷ lệ 77,7%), bắt xử lý 505 đối tượng. Phát hiện, triệt xóa 410 tụ điểm cờ bạc, xử lý 2.385 đối tượng. Xảy ra 1 vụ, có 352/659 học viên trốn khỏi cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Tiền Giang; đến nay, đã bắt, vận động được 324/352 học viên trở lại cơ sở cai nghiện.

    Tội phạm và vi phạm pháp luật về kinh tế, tham nhũng và môi trường: phát hiện, khởi tố 7 vụ với 11 bị can phạm tội trên lĩnh vực kinh tế, tham nhũng và xử lý vi phạm hành chính 153 trường hợp vi phạm trật tự kinh tế (chủ yếu là hành vi vận chuyển, buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu và kinh doanh hàng hóa không hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc); phát hiện, xử lý 140 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, tài nguyên (chủ yếu là hành vi gây ô nhiễm môi trường, khai thác cát trái phép).

    Tội phạm và vi phạm pháp luật về ma túy: phát hiện 129 vụ tội phạm về ma túy, xử lý hình sự 150 đối tượng mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy và xử lý hành chính 1.807 đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.

    7. Tình hình trật tự an toàn giao thông: Theo báo cáo của ngành công an tính đến ngày 15/8/2018:

    Giao thông đường bộ: Trong quý III tai nạn xảy ra 65 vụ, làm chết 51 người, bị thương 36 người; so với quý II tai nạn giảm 17 vụ, số người chết giảm 5 vụ, số người bị thương giảm 16 vụ. Từ đầu năm đến nay tai nạn xảy ra 235 vụ, làm chết 157 người, bị thương 145 người; so cùng kỳ tai nạn giảm 11 vụ, số người chết giảm 13 người, số người bị thương giảm 3 người. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ xảy ra 76.529 vụ tăng 13.292 vụ so cùng kỳ, đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 44.783 vụ, tước giấy phép lái xe 2.808 vụ, phạt tiền 29.973 vụ với số tiền phạt 29.304 triệu đồng.

    Giao thông đường thủy: Trong quý III xảy ra 1 vụ. Từ đầu năm đến nay xảy ra 6 vụ tai nạn tăng 3 vụ so cùng kỳ, làm chết 1 người tương đương so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy xảy ra 18.927 vụ tăng 2.719 vụ so cùng kỳ, đã phạt tiền 17.118 vụ với số tiền phạt 3.189 triệu đồng.

    * Tai nạn giao thông trong những ngày lễ 2/9 (từ 7 giờ ngày 1/9 đến 7 giờ ngày 4/9/2018): Giao thông đường bộ: tai nạn xảy ra 3 vụ giảm 6 vụ so cùng kỳ; làm 1 người chết, giảm 3 người; 7 người bị thương, tăng 2 người so cùng kỳ. Nguyên nhân do người và phương tiện tham gia giao thông tăng, mặt cầu không đủ rộng để đáp ứng nhu cầu lưu thông. Tuy nhiên vào lúc 7 giờ, ngày 1/9/2018 trên tuyến kênh Chợ Gạo (thuộc khu II, thị trấn Chợ Gạo, huyện Chợ Gạo), phương tiện ghe gỗ đi từ TP. Hồ Chí Minh về Miền Tây bị mắc cạn gây ảnh hưởng đến luồng kênh Chợ Gạo, nguyên nhân do thủy triều xuống thấp.

    8. Tình hình cháy nổ, môi trường:

    Từ đầu năm đến nay xảy ra 29 vụ cháy, tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính trên 234,8 tỷ đồng. Vi phạm môi trường đã phát hiện 34 vụ, đã xử lý 32 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 889 triệu đồng. Tiếp tục tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) trên địa bàn tỉnh, Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH phối hợp Đài Phát thanh truyền hình, đài truyền thanh cơ sở mở chuyên mục “An toàn về PCCC và CNCH”; tăng thời lượng đưa tin, bài tuyên truyền về công tác phòng cháy, chữa cháy, nhất là các biện pháp thoát nạn, cứu người để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân biết, tự giác thực hiện; tổ chức tuyên truyền trực tiếp về PCCC cho cán bộ, công chức, nhân dân và người lao động.

    9. Thiệt hại do thiên tai:

    Để chủ động phòng, chống, ứng phó có hiệu quả với các diễn biến thiên tai trong thời gian tới, Ủy ban nhân dân tỉnh đã có công văn số 3873/UBND-KT ngày 5/9/2018 về việc giao tổ chức triển khai thực hiện ứng phó lũ lớn và tìm kiếm cứu nạn trên địa bàn tỉnh. Trong 9 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 6 cơn lốc xoáy ở các huyện Cái Bè, Cai Lậy và Tân Phú Đông làm thiệt hại 267 căn nhà (sập 32 căn nhà và tốc máy 235 căn); 3.079 cây trồng (mít, chuối, sầu riêng...) bị thiệt hại. Trong đó, thiệt hại 100%: 2.620 cây; thiệt hại 50%: 459 cây; 0,9 ha bắp thiệt hại 90% và 20 cây bạch đàn bị gãy đổ... Ước tổng thiệt hại trên 8,9 tỷ đồng.

SL ước tháng 9 -2018

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 14)
Trang:1 - 2Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 10 năm 2018 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2017 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*) -1,07
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +9,1
Trị giá xuất khẩu +13,6
Trị giá nhập khẩu +50,3
Khách quốc tế đến Tiền Giang +11,4
Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước +14,9
Chỉ số giá tiêu dùng (*) +0,24

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế năm 2018(xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 9,0 – 9,5% so với năm 2017

- Cơ cấu kinh tế năm 2018:

          Khu vực 1: 37,2%;

          Khu vực 2: 30,0%;

          Khu vực 3: 32,8%.

- GRDP bình quân đầu người đạt 48,0 – 48,2 triệu đồng.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2.650 triệu USD tăng 5,4% so năm 2017.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 31.500 – 32.000 tỷ đồng chiếm khoảng 37,2 – 37,5%/GRDP.

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 7.980 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương 10.203,7 tỷ đồng.

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 730 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 97
Truy cập: 483.275
User IP: 54.163.22.209

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn