Số 21 đường 30/4 - phường 1 - TP Mỹ Tho - tỉnh Tiền Giang               Hotline: 0273 3872 582               Email: tiengiang@gso.gov.vn

TÍCH CỰC THAM GIA TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở NĂM 2019 LÀ GÓP PHẦN XÂY DỰNG TƯƠNG LAI CHO ĐẤT NƯỚC VÀ MỖI CHÚNG TA

Tổng Cục Thống kê

Cổng Thông tin điện tử

tỉnh Tiền Giang

                                                                                     - Hướng dẫn Đăng ký tài khoản (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn tra cứu thông tin (Xem Clip)

                                                                                  - Hướng dẫn đăng ký hộ kinh doanh (Xem Clip)

                                                                                     - Hướng dẫn đăng ký khai sinh (Xem Clip)

Thăm Dò Ý Kiến
Thông tin bạn quan tâm nhất trên trang web này





Năm 2015
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang năm 2015
Thứ hai, Ngày 28 Tháng 12 Năm 2015

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Tiền Giang năm 2015

    I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ:

    1. Tăng trưởng kinh tế:

    Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP): năm 2015 ước tính đạt 48.694 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010) tăng 9% so với năm 2014, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 17,1%, khu vực dịch vụ tăng 9%. GRDP theo giá thực tế đạt 62.427 tỷ đồng; tổng sản phẩm bình quân đầu người đạt 36,1 triệu đồng/người/năm, tăng 2,9 triệu đồng so với năm 2014 (năm 2014 đạt 33,2 triệu đồng).

    Cơ cấu kinh tế: chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp. Khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chiếm 39,9% (kế hoạch 38,8-38,9%), khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 24,9% (kế hoạch 26%), khu vực dịch vụ chiếm 35,2% (kế hoạh 35,1-35,2%). So với năm 2014 tỷ trọng trong GRDP của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản giảm 2,2%, khu vực công nghiệp xây dựng tăng 1,9% và khu vực dịch vụ tăng 0,3%.

    2. Đầu tư và xây dựng:

    Vốn đầu tư toàn xã hội ước thực hiện 24.242 tỷ đồng, đạt 99,4% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ; khu vực nhà nước 2.981 tỷ đồng, giảm 2,3%; khu vực ngoài nhà nước 15.898 tỷ đồng, tăng 16,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 5.363 tỷ đồng, tăng 12,2%.

    Vốn đầu tư từ Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện 1.816,5 tỷ đồng, đạt 103,1% kế hoạch, giảm 3,1% so cùng kỳ. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.325,8 tỷ đồng, tăng 2,6%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 354,5 tỷ đồng, giảm 25,2%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 136,2 tỷ đồng, tăng 25,1%. Trong năm, đã đưa vào triển khai thực hiện 567 công trình, dự án; trong đó: cấp tỉnh quản lý đầu tư hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng 36/122 công trình, huyện và xã quản lý từ nguồn vốn phân cấp, bổ sung có mục tiêu 384/445 công trình. Trong năm thu hút được 10 dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng tổng số vốn đăng ký 68,9 triệu USD, các dự án đầu tư chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo.

    3. Sản xuất công nghiệp:

    Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2015 tăng 8,1% so cùng kỳ. Trong đó: ngành khai khoáng tăng 17,5% so cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,0%, một số mặt hàng sản xuất tăng như: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,0%, sản xuất đồ uống tăng 3,4%, sản xuất trang phục tăng 3,3%...; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,5%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý rác thải, nước thải tăng 13,0%.

    Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá so sánh 2010 được 64.716,9 tỷ đồng, tăng 19,0% so cùng kỳ; khu vực kinh tế nhà nước thực hiện 1.597,4 tỷ đồng, giảm 26,3%; khu vực kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 39.980,8 tỷ đồng, tăng 21,8%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 23.138,7 tỷ đồng, tăng 19,4%. Phân theo ngành kinh tế: ngành chế biến, chế tạo thực hiện 63.839,3 tỷ đồng, tăng 19,0%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng hơi nước và điều hòa không khí tăng thực hiện 591,2 tỷ đồng, tăng 16,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải thực hiện 285,9 tỷ đồng, tăng 18,4%; ngành khai khoáng thực hiện 0,5 tỷ đồng, tăng 18,8%.

    4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản:

    Trồng trọt: toàn tỉnh gieo trồng 229.134 ha cây lương thực có hạt, đạt 101,3% kế hoạch và giảm 2,4% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.529 ha do chuyển đổi cây trồng. Sản lượng thu hoạch 1.360.180 tấn, đạt 103,8% kế hoạch và giảm 1,8% so cùng kỳ nguyên nhân chủ yếu do diện tích gieo trồng giảm. Trong đó: cây lúa diện tích xuống giống 224.746 ha, đạt 101,3% kế hoạch, giảm 2,6% so cùng kỳ, tương ứng giảm 5.883 ha. Năng suất bình quân 59,8 tạ/ha, đạt 102,4% kế hoạch và tăng 0,7% so cùng kỳ tương ứng 0,40 tạ/ha. Sản lượng thu hoạch 1.344.386 tấn, đạt 103,8% kế hoạch và giảm 1,9% so cùng kỳ tương ứng giảm 25.927 tấn chủ yếu là do diện tích gieo trồng giảm.

    Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn trồng cây bắp được 4.374 ha, đạt 101,1% kế hoạch, tăng 8,7% so cùng kỳ, năng suất bình quân 36,0 tạ/ha, tương đương cùng kỳ, sản lượng 15.760 tấn, đạt 104,3% kế hoạch và tăng 8,6% so cùng kỳ. Cây chất bột có củ trồng được 1.477 ha, đạt 141,9% kế hoạch, tăng 2,3% so cùng kỳ; trong đó diện tích khoai mỡ là 848 ha trồng nhiều ở huyện Tân Phước. Cây công nghiệp hàng năm trồng 742 ha, giảm 15 ha. Cây rau, đậu các loại trồng 50.273 ha, đạt 103,0% kế hoạch, tăng 2,9% so cùng kỳ tương ứng tăng 1.431 ha; trong đó chủ yếu là rau các loại với diện tích 50.070 ha, tăng 1.402 ha so cùng kỳ do có sự chuyển đổi cây trồng từ diện tích lúa sang màu và chuyển đổi cây hàng năm từ cây dài ngày sang ngắn ngày để mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

    Cây lâu năm, cây ăn quả: toàn tỉnh hiện có 87.939 ha, đạt 100,8% kế hoạch (87.219 ha), tăng 0,8% so cùng kỳ tương ứng 660 ha. Sản lượng cây lâu năm trên 1,4 triệu tấn, đạt 107,2% kế hoạch (1,36 triệu tấn), tăng 8,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 114 ngàn tấn, nguyên nhân do mở rộng diện tích trồng, cộng với việc xử lý cho ra hoa trái vụ đã làm cho năng suất một số cây chủ lực như thanh long, sầu riêng, mít... tăng đáng kể.

    Chăn nuôi: có sự chuyển dịch theo hướng chăn nuôi tập trung, vệ sinh an toàn sản xuất từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Theo kết quả điều tra chăn nuôi, tại thời điểm 01/10, đàn trâu có 319 con, giảm 5,6% so cùng kỳ; đàn bò có 88.297 con, tăng 12,7%; đàn lợn có 603 ngàn con, tăng 1,2%; đàn gia cầm có 8.906 ngàn con, tăng 23,9% so cùng kỳ, trong đó đàn gà có 6.394 ngàn con tăng 13,3% so cùng kỳ tương ứng tăng 748 ngàn con. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng do dịch bệnh được khống chế, làm tốt khâu tiêm phòng; giá cả sản phẩm tuy chưa tăng nhiều nhưng tương đối thuận lợi nên nông hộ tích cực phát triển và mở rộng quy mô đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính đạt 177.421 tấn, tăng 10,9% so với năm trước; trong đó sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng được 120.335 tấn, tăng 14,5% so cùng kỳ; thịt bò 18.295 tấn, giảm 2,2% so cùng kỳ; thịt gia cầm đạt 36.208 tấn, tăng 4,8% so cùng kỳ, trong đó thịt gà 20.450 tấn, tăng 2,7% so cùng kỳ...

    Lâm nghiệp: Toàn tỉnh hiện có 1.431 ha rừng phòng hộ tập trung ở huyện Tân Phú Đông 850 ha, Gò Công Đông 535 ha. Rừng sản xuất có 1.700 ha ở huyện Tân Phước, giảm 435 ha so cùng kỳ, do diện tích rừng tràm sản xuất chuyển sang trồng dứa và cây hàng năm khác. Cây lâm nghiệp trồng phân tán được 2.734 ngàn cây, bằng 81,2% so với cùng kỳ.

    Thủy hải sản:

    Diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 15.576 ha, giảm 1,1% so cùng kỳ tương ứng giảm 173 ha. Trong đó, diện tích nuôi thủy sản nước ngọt 6.318 ha, giảm 3,2% so cùng kỳ, thời tiết đầu vụ không thuận lợi và thị trường tiêu thụ không ổn định, giá cá tra và điêu hồng thương phẩm dao động ở mức ngang giá thành sản xuất không kích thích người nuôi; diện tích nuôi nước mặn, lợ 9.258 ha, tăng 0,4% so cùng kỳ, do giá tôm tương đối ổn định ở mức cao nên người nuôi an tâm sản xuất.

    Tình hình dịch bệnh trên tôm: có 297 ha tôm nuôi thâm canh, bán thâm canh ở 02 huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông bị bệnh (chủ yếu là bệnh hoại tử gan tụy và đốm trắng), chiếm 9,8 % diện tích nuôi (2.875,5 ha). Trong đó, đã xác minh 252 hộ với diện tích nuôi 104,13 ha. Đã sử dụng 3.717 kg Chlorine/18 hộ/9,27 ha và 12.330 kg TCCA/181 hộ/68,04 ha để xử lý khống chế bệnh.

    Sản lượng thủy sản ước tính đạt 242.769 tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng nuôi trồng 144.992 tấn, tăng 5,1%; sản lượng khai thác 97.777 tấn, tăng 5,1%. Tiếp tục thực hiện Quyết định 48/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, từ đầu năm đến nay, đã tổ chức 06 đợt xét duyệt và có 333 hồ sơ đủ điều kiện được hỗ trợ với tổng số tiền đề nghị hỗ trợ là 21,821 tỷ đồng (trong đó có 06 hồ sơ/368 triệu đồng của đợt 6/2014 chuyển sang); đã hỗ trợ máy thông tin liên lạc tầm xa tích hợp định vị vệ tinh: 280 triệu đồng/10 máy và hỗ trợ bảo hiểm thân tàu, tai nạn thuyền viên: 1,75 tỷ đồng/06 tàu. Trong năm, xảy ra 17 trường hợp tai nạn tàu cá, chết và mất tích 06 người, làm hư hại 12 tàu cá, ước tính thiệt hại khoảng 12,445 tỷ đồng.

    5. Thương mại, dịch vụ và giá cả:

    a. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội:

    Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội thực hiện 48.959 tỷ đồng, tăng 11,4% so cùng kỳ; kinh tế nhà nước thực hiện 4.383 tỷ đồng, tăng 5,4%; kinh tế ngoài nhà nước thực hiện 44.380 tỷ đồng, tăng 11,8%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện 195 tỷ đồng, tăng 100,7%. Phân theo ngành kinh tế: thương nghiệp đạt 39.923 tỷ đồng, tăng 11,4%; lưu trú đạt 71 tỷ đồng, giảm 3,9%; ăn uống đạt 4.128 tỷ đồng, tăng 9,9%; du lịch lữ hành đạt 60 tỷ đồng, tăng 11%; dịch vụ đạt 4.777 tỷ đồng, tăng 12,2% so cùng kỳ.

    Tổ chức thành công Hội chợ chào mừng Đại hội Đảng bộ tinh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 - 2020, từ 15 đến 25/10 tại đường Hùng Vương, thành phố Mỹ Tho. Tổ chức 03 Phiên chợ hàng Việt tại huyện Gò Công Tây, huyện Cái Bè và thị xã Gò Công; có 105 lượt doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia. Ngoài ra tổ chức đoàn doanh nghiệp, hợp tác xã trong lĩnh vực nông sản tươi và nông sản chế biến của tỉnh tham gia Triển lãm Quốc tế Công nghiệp thực phẩm Việt Nam 2015 (Vietnam FoodExpo 2015) từ ngày 13 - 16/05/2015 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn SECC, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là sự kiện xúc tiến nổi bật trong năm nhằm giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm đối tác nước ngoài trong lĩnh vực nông sản tươi và nông sản chế biến của tỉnh.

    b. Xuất, nhập khẩu:

    Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 1.758,7 triệu USD, đạt 109,9% kế hoạch, tăng 6,2% so cùng kỳ; trong đó: kinh tế nhà nước thực hiện 38,7 triệu USD, giảm 11,6%; kinh tế ngoài nhà nước 577,9 triệu USD, giảm 13,5%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.142,2 triệu USD, tăng 21%. Kim ngạch tập trung chủ yếu ở ngành công nghiệp chế biến đạt 1.663,8 triệu USD, chiếm 94,6% kim ngạch xuất khẩu. Các mặt hàng chủ lực của tỉnh có kim ngạch xuất khẩu tăng như:  Gạo: xuất được 226.906 tấn, tăng 6,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 13.879,7 tấn, với trị giá tương đương 94,65 triệu USD, giảm 5,1%, tương ứng giảm 5,1 triệu USD do giá xuất bình quân năm 2015 so năm 2014 giảm 10,9%, giảm 51,1 USD/tấn. Hàng rau quả: xuất 6.214,9 tấn, tăng 7,8% so cùng kỳ, tương ứng tăng 449,3 tấn, về trị giá xuất tương đương 9,0 triệu USD, tăng 29,7%, tương ứng tăng 2,1 triệu USD. Hàng may mặc: xuất 91.063 ngàn sản phẩm, tăng 94,5% so cùng kỳ, tương ứng tăng 44.237,4 ngàn sản phẩm, về trị giá đạt 381,9 triệu USD, tăng 5,6% tương ứng tăng 20,3 triệu USD...

    Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt 1.134,4 triệu USD, đạt 113,4% kế hoạch, tăng 31,8% so cùng kỳ. Trị giá nhập khẩu tập trung chủ yếu doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 67,3%. Hàng nhập khẩu tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến chế tạo 1.126,6 triệu USD, tăng 33,7%. Trong đó trị giá hàng nhập khẩu cho ngành sản xuất chế biến thực phẩm 281 triệu USD, tăng 30,7%; ngành may mặc 268,9 triệu USD, tăng 29,9%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan đạt 372,7 triệu, tăng 81,1%. Trị giá mặt hàng nhập khẩu chủ yếu như thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 43,7%, nguyên phụ liệu dược phẩm tăng 2,7%, nguyên phụ liệu dệt may gia giầy tăng 79,6%, kim loại thường tăng 25,3%, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 72,0% so cùng kỳ.

    c. Chỉ số giá:

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12 năm 2015 so với tháng trước giảm 0,07% (thành thị giảm 0,02%, nông thôn giảm 0,08%); so với tháng 12 năm trước tăng 1,32% và CPI bình quân 12 tháng năm 2015 so cùng kỳ năm trước tăng 1,34%.

    So với tháng trước có 7/11 nhóm hàng có chỉ số tăng, cao nhất là nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,19%, như: tiền công cắt may bộ com lê tăng 1,11%, tiền công cắt may áo sơ mi nữ tăng 5,4%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%, gạo bán lẻ tiêu dùng tăng 0,66%, thịt bò tăng 0,41%, thịt gà tăng 0,59%, thịt gia cầm khác tăng 1,89%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%, tiền công thuê người giúp việc tăng 0,98%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08%, giá gas tăng 6,51%, giá nước sinh hoạt tăng 0,59%, giá điện sinh hoạt tăng 0,49%; giải trí và du lịch tăng 0,05%; các mặt hàng còn lại tăng từ 0,02 - 0,08%. Có 2 nhóm hàng ổn định là bưu chính viễn thông và giáo dục. Có 2 nhóm hàng có chỉ số giá giảm: nhóm giao thông giảm 1,85%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,26%.

    d. Du lịch:

    Số khách tham quan du lịch đạt 1.478,6 ngàn lượt, tăng 3,7% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế đạt 484,4 ngàn lượt, tăng 8,2%. Doanh thu hoạt động lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành đạt 4.259 tỷ đồng, tăng 9,7%, trong đó kinh tế nhà nước tăng 3,4%, kinh tế cá thể tăng 10% và kinh tế tư nhân tăng 11,2% so cùng kỳ. Ngành du lịch của tỉnh đã có nhiều cố gắng xúc tiến phát triển du lịch, trong đó chú trọng phát huy tiềm năng du lịch sinh thái, các công tác xã hội hóa hoạt động du lịch cũng đã thực hiện tốt, nhiều làng nghề truyền thống ở Tiền Giang đã được khôi phục, các phong tục cổ truyền độc đáo tại miệt vườn sông nước Tiền Giang cũng được phát huy.

    e. Vận tải:

    Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện 1.832,9 tỷ đồng, tăng 8,4% so cùng kỳ; trong đó, doanh thu chủ yếu là từ thành phần kinh tế ngoài nhà nước 1.832,9 tỷ đồng, tăng 13,2%. Vận tải đường bộ thực hiện 1.109,4 tỷ đồng, tăng 8,1% so cùng kỳ; vận tải đường sông thực hiện 655,6 tỷ đồng, tăng 10,4%, vận tải đường biển thực hiện 67,9 tỷ đồng, giảm 4,7%.

    Vận chuyển hành khách đạt 33.901 ngàn lượt khách, tăng 7,2% so cùng kỳ và luân chuyển được 1.196.568 ngàn lượt khách.km, tăng 14,6%. Vận tải đường bộ thực hiện 25.550 ngàn lượt khách, tăng 6,7% và luân chuyển được 1.176.490 ngàn lượt khách.km, tăng 14,8% so cùng kỳ. Vận tải đường sông thực hiện 8.351 ngàn lượt khách, tăng 8,8% và luân chuyển được 20.078 ngàn lượt khách.km, tăng 2,8% so cùng kỳ.

    Vận chuyển hàng hóa đạt 13.734 ngàn tấn, tăng 2,7% so cùng kỳ và luân chuyển được 1.280.463 ngàn tấn.km, tăng 5,4%. Vận tải đường bộ thực hiện 4.169 ngàn tấn, tăng 0,1% so cùng kỳ và luân chuyển được 349.947 ngàn tấn.km, tăng 4,4%. Vận tải đường sông thực hiện 9.565 ngàn tấn, tăng 3,9% so cùng kỳ và luân chuyển được 930.516 ngàn tấn.km, tăng 5,8%.

    * Phương tiện giao thông: Tổng số xe đang quản lý trên địa bàn tỉnh 931.608 chiếc, trong đó mô tô xe máy: 908.722 chiếc, 22.719 xe ô tô, 107 xe ba bánh và 60 xe khác.

    f. Bưu chính viễn thông:

    Doanh thu dịch vụ bưu chính, viễn thông đạt 1.705 tỷ đồng, đạt 103% kế hoạch, tăng 3,2% so cùng kỳ: bưu chính doanh thu đạt 55 tỷ đồng, tăng 12,8%, viễn thông đạt 1.650 tỷ đồng, tăng 2,9%. Số thuê bao điện thoại trên mạng đến cuối tháng 12 là 179.185 thuê bao, mật độ điện thoại bình quân đạt 10,41 thuê bao/100 dân (chỉ tính thuê bao cố định và di động trả sau). Tổng số thuê bao Internet trên mạng đến cuối năm 2015 là 75.949 thuê bao, mật độ Internet bình quân ước đạt 4,4 thuê bao/100 dân. Toàn tỉnh có 160 điểm phục vụ Bưu chính, trong đó có 41 bưu cục, 109 điểm bưu điện văn hóa xã và 10 Đại lý bưu điện. Bán kính phục vụ bình quân ước đạt 2,2 km/điểm phục vụ, đạt 100% kế hoạch; khu vực nông thôn ước đạt 2,4 km/điểm phục vụ, đạt 100% kế hoạch. Số dân phục vụ bình ước đạt 10.661 người/điểm phục vụ, đạt 101%  kế hoạch;, khu vực nông thôn ước đạt 10.936 người/điểm phục vụ, đạt 101% kế hoạch.

    II-MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI

    1. Lao động, giải quyết việc làm:

    Trong năm, giải quyết việc làm được cho khoảng 24.360/24.000 lao động, đạt 101,5% kế hoạch, trong đó có 161 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đạt 107,3% kế hoạch năm; tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị giảm còn 2,5%. Tổ chức 35 phiên giao dịch việc làm với 70 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng, với tổng nhu cầu tuyển dụng 3.262 lao động, các phiên giao dịch đã thu hút khoảng 1.638 lao động tham gia trực tiếp và hàng ngàn lượt tham gia gián tiếp qua website của Trung tâm. Có 11.010 người đăng ký thất nghiệp, tăng 16,7% so cùng kỳ; giải quyết hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 10.776 người với tổng số tiền chi trả tương đương 81,8 tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ.

    2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội:

    Vận động ủng hộ Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đã thu được 11,0 tỷ đồng, đạt 110% kế hoạch, bàn giao đưa vào sử dụng 133 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 5,3 tỷ đồng, đạt 102% kế hoạch, sửa chữa 71 ngôi nhà tình nghĩa với tổng kinh phí 1,4 tỷ đồng, đạt 203% kế hoạch năm từ nguồn vận động. Đưa 47 Bà mẹ Việt Nam anh hùng đi tham quan thủ đô Hà Nội viếng lăng Bác Hồ, được các đồng chí Lãnh đạo Trung ương tiếp đón ân cần, thăm hỏi, động viên, tình hình sức khỏe các mẹ được chăm sóc trong suốt chuyến đi. Trong năm cũng đã tổ chức truy tặng Danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” 02 đợt, tổng số 727 mẹ, nâng tổng số đến nay là 5.190 mẹ của toàn tỉnh.

    Toàn tỉnh có 22.656 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 4,99%; 22.428 hộ cận nghèo mức 1, tỷ lệ 4,94% và 5.138 hộ cận nghèo mức 2, tỷ lệ 1,13%. Đã cho 17.871 lượt hộ nghèo vay vốn tín dụng ưu đãi với số tiền 215,2 tỷ đồng và 36.146 hộ cận nghèo vay vốn phát triển sản xuất với tổng số tiền hơn 394,2 tỷ đồng. Mua bảo hiểm y tế cho người dân sống ở 11 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển năm 2015 (nhà nước hỗ trợ 100%) có 71.883 thẻ với kinh phí 11.159 triệu đồng; mua bảo hiểm y tế cho hộ cận nghèo mức 1 năm 2015 (ngân sách tỉnh hỗ trợ thêm 30%, ngân sách Trung ương hỗ trợ 70%) tổng số 45.611 thẻ, kinh phí 7.842 triệu đồng. Tặng quà hỗ trợ hộ nghèo đón tết gồm: 115.374 lượt hộ, tổng mức kinh phí là 31.014,5 triệu đồng từ nguồn ngân sách tỉnh, huyện, vận động xã hội và phát gạo hỗ trợ đón tết 4.000 kg cho hộ nghèo. Tổng số thẻ được cấp mới miễn phí cho người nghèo từ đầu năm đến nay của toàn tỉnh là 73.513 thẻ. Đối vởi trẻ em dưới từ 0- 6 tuổi được cấp thẻ bảo hiểm miễn phí là 149.853 thẻ

    3. Giáo dục:

    Kết quả năm học 2014- 2015:

    Bậc Tiểu học: cuối năm có 27.357/27.469 học sinh được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học, đạt tỷ lệ 99,6%. Bậc THCS: có 21.541/22.130 học sinh được công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở, tỷ lệ 97,3%. Tốt nghiệp trung học phổ thông năm học 2014-2015 có 12.744/13.450 học sinh tốt nghiệp, tỉ lệ 94,8%.

    Thống kê sơ bộ năm học 2015 - 2016:

    Tổ chức tốt ngày “Toàn dân đưa trẻ đến trường” và khai giảng năm học mới. Số liệu đầu năm học 2015-2016 như sau:

    - Mầm non có 189 trường, 1.618 lớp, 52.176 học sinh,

    - Tiểu học 226 trường, 4.384 lớp, 140.566 học sinh,

    - Trung học cơ sở 126 trường, 2.597 lớp, 102.056 học sinh,

    - Trung học phổ thông 37 trường, 1.027 lớp, 38.298 học sinh,

    - Giáo dục thường xuyên 2.486 học sinh.

    Có 151 trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó mầm non 22, tiểu học 103, trung học cơ sở 22, trung học phổ thông 4; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia so với tổng số trường của từng bậc học là mầm non 11,6%, tiểu học 45,6%, trung học cơ sở 17,5% và trung học phổ thông 10,8% (tăng 20 trường, trong đó 5 trường mầm non, 9 tiểu học, 5 trung học cơ sở, 1 trung học phổ thông so với năm 2014). Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên 20.404 người, trong đó có 16.029 cán bộ, giáo viên trực tiếp giảng dạy. Trình độ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn như sau: Mầm non: đạt chuẩn 48,5%, trên chuẩn 51,5%; Tiểu học: đạt chuẩn 28,7%, trên chuẩn 71,3%; THCS: đạt chuẩn 48,3%, trên chuẩn 51,7%; THPT: đạt chuẩn tỉ lệ 87,5%, trên chuẩn 12,5%.

    Tổ chức xét tuyển sinh trình độ đại học và cao đẳng hệ chính quy năm 2015, kết quả: có 1.905 sinh viên nhập học, đạt 79,6%, trong đó đại học 1.050/1.120 chỉ tiêu đạt 93,8%.

    4. Chăm sóc sức khỏe:

    Công tác phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh được theo dõi, giám sát thường xuyên, so với năm 2014 ghi nhận 03 bệnh tăng (bệnh sốt xuất huyết, bệnh do liên cầu lợn ở người, Rubella) và 09 bệnh giảm. Tổng số cas tử vong do bệnh truyền nhiễm ghi nhận từ đầu năm đến nay là 04 cas tử vong (02 cas Sốt xuất huyết, 01 cas viêm gan virus, 01 cas Tay - Chân - Miệng). Đặc biệt số cas mắc Sốt xuất huyết 1.982 cas và bệnh do liên cầu lợn ở người 07 cas tăng cao. Công suất sử dụng giường bình quân của các cơ sở điều trị đạt 94%, trong đó Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đạt 106%, các bệnh viện chuyên khoa đạt 87,7%, các bệnh viện huyện đạt 66,7%, các phòng khám đa khoa khu vực đạt 53,9%. Đã khám chữa bệnh 5.485.512 lượt người, giảm 7,2% so cùng kỳ, trong đó điều trị nội trú 220.146 lượt người, giảm 0,03%.

    Công tác tuyên truyền về đảm bảo An toàn vệ sinh thực phẩm được thực hiện thường xuyên trên địa bàn tỉnh. Có 13.036 lượt cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm được kiểm tra; kết quả có 12.166 cơ sở đạt tiêu chuẩn (đạt 93,3%). Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm với 493 người mắc, không có tử vong. Đặc biệt đã xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm qui mô lớn trên 50 người, nguyên nhân do thức ăn nhiễm vi sinh.

    5. Văn hóa, thể thao:

    Ngành tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao và du lịch được phát động và tổ chức rộng khắp từ tỉnh đến cơ sở nhằm thiết thực chào mừng các ngày kỷ niệm: 85 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; lễ Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương; 125 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh; 70 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 02/9… đặc biệt là chào mừng thành công Đại hội Đảng các cấp, Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa X và tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

    Về xây dựng Gia đình văn hóa: có 433.528 hộ/433.643 hộ trên địa bàn toàn tỉnh đăng ký xây dựng gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 99,97%. Qua bình xét có 417.403/433.528 hộ đạt gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 96,3%.

    Toàn tỉnh có 969/1.025 ấp, khu phố văn hoá, đạt tỷ lệ 94,5%. Có 79/173 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn văn hoá; trong đó, có 60 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và 19 phường, thị trấn đạt chuẩn văn minh đô thị. Có 33 chợ văn hóa, 304 con đường văn hóa, 356 cơ sở thờ tự văn hóa, 11 công viên văn hóa. Tổ chức lễ đón nhận 12 xã điểm xây dựng hoàn thành xong 19 chỉ tiêu nông thôn mới.

    Thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể thao gương Bác Hồ vĩ đại”, năm 2015, toàn tỉnh có 538.702 người tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, đạt 30,8% dân số tỉnh; với 98.869 hộ gia đình tham gia tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, đạt 21,8% số hộ gia đình trên địa bàn tỉnh. Thể thao thành tích cao: tham gia 47 giải cấp Quốc tế, Quốc gia và khu vực, đạt 356 huy chương trong đó: 106 huy chương Vàng, 107 huy chương Bạc và 143 huy chương Đồng. Tham gia Đại hội Thể dục Thể thao đồng bằng sông Cửu Long lần VI, kết quả đạt 66 huy chương Vàng, 65 huy chương Bạc, 96 huy chương Đồng, đứng thứ 3/14 đoàn tham gia.

    6. Tình hình trật tự an toàn giao thông:

    Theo báo cáo của ngành Công an đến 15/11 như sau:

    Giao thông đường bộ: Toàn tỉnh đã xảy ra 331 vụ tai nạn, giảm 59 vụ so cùng kỳ, làm chết 169 người giảm 49 người so cùng kỳ, bị thương 264 người và giảm 93 người so cùng kỳ. Vi phạm trật tự an toàn giao thông 68.570 vụ, giảm 16.320 vụ so cùng kỳ. Đã xử lý tạm giữ giấy tờ và phương tiện 43.942 vụ, tước giấy phép lái xe 5.647 vụ và phạt tiền 24.614 vụ với số tiền 28.570 triệu đồng.

    Giao thông đường thủy: xảy ra 7 vụ, giảm 2 vụ  so cùng kỳ, làm chết 02 người. Thiệt hại tài sản 1.250 triệu đồng. Vi phạm trật tự an toàn giao thông đường thủy xảy ra 17.692 vụ tăng 229 vụ so cùng kỳ, phạt tiền 14.163 vụ với số tiền phạt 1.525 triệu đồng.

    7. Tình hình cháy nổ, môi trường:

    Tổng số vụ cháy xảy ra là 40 vụ, nổ 01 vụ, làm chết 01 người, bị thương 06 người với tổng tài sản thiệt hại ước tính trên 60,2 tỷ đồng và 1,5 hecta rừng tràm, bạch đàn từ 02-03 năm tuổi. So với cùng kỳ năm 2014, số vụ cháy giảm 07 vụ, nổ tăng 01 vụ, số người chết tương đương và bị thương tăng 02 người. Nguyên nhân gây cháy nổ chủ yếu là do ở vào lúc cao điểm của mùa khô, cùng với sự bất cẩn của người dân trong tiếp xúc với lửa và do sự cố điện

    Vi phạm môi trường đã phát hiện 57 vụ gồm tài nguyên khoáng sản 34 vụ, môi trường 5 vụ, đất đai 13 vụ và tài nguyên nước 5 vụ; đã xử lý 57 vụ với tổng số tiền xử phạt là 1.258 triệu đồng.

SL ước tháng 12

Các tin cùng chuyên mục:
Hiển thị kết quả 1-10 (của 49)
Trang:1 - 2 - 3 - 4 - 5Trang đầu « Lùi · Tới » Trang cuối

Một số chỉ tiêu chủ yếu tháng 10 năm 2018 (tăng/giảm) so với cùng kỳ năm 2017 của tỉnh Tiền Giang (%)

Chỉ số sản xuất công nghiệp(*) -1,07
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng +9,1
Trị giá xuất khẩu +13,6
Trị giá nhập khẩu +50,3
Khách quốc tế đến Tiền Giang +11,4
Thực hiện vốn đầu tư ngân sách nhà nước +14,9
Chỉ số giá tiêu dùng (*) +0,24

(*): so với tháng trước.

1. Các chỉ tiêu kinh tế năm 2018(xem chi tiết):

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (theo giá so sánh 2010) tăng từ 9,0 – 9,5% so với năm 2017

- Cơ cấu kinh tế năm 2018:

          Khu vực 1: 37,2%;

          Khu vực 2: 30,0%;

          Khu vực 3: 32,8%.

- GRDP bình quân đầu người đạt 48,0 – 48,2 triệu đồng.

- Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 2.650 triệu USD tăng 5,4% so năm 2017.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt khoảng 31.500 – 32.000 tỷ đồng chiếm khoảng 37,2 – 37,5%/GRDP.

- Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 7.980 tỷ đồng.

- Tổng chi ngân sách địa phương 10.203,7 tỷ đồng.

- Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới đạt 730 doanh nghiệp.

Tìm kiếm thông tin
Thông tin người dùng
User Online: 69
Truy cập: 483.220
User IP: 54.163.22.209

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỤC THỐNG KÊ TỈNH TIỀN GIANG
21 đường 30/4, phường 1, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang
ĐT: 0273. 3872582 - Fax: 0273. 3886 952 - Email:tiengiang@gso.gov.vn